Thứ Hai, 27 tháng 8, 2012

CẦN NHÌN NHẬN KHÁCH QUAN VỀ GIỐNG LÚA IR 50404

CẦN NHÌN NHẬN KHÁCH QUAN VỀ GIỐNG LÚA IR 50404 
Giống lúa IR 50404 có nguồn gốc từ Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) được nhập nội vào Việt Nam năm 1990 và được công nhận đặc cách năm 1992. Theo tác giả giống lúa này – Tiến sĩ Đỗ Khắc Thịnh – Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam giống được phóng thích đầu tiên tại huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang và vùng Đồng Tháp Mười của Long An, Đồng Tháp và nhanh chóng lan rộng trong sản xuất lúa cho đến nay. Đây là một trong số rất ít giống lúa tồn tại trong sản xuất gần 20 năm. Sức sống và sự tồn tại của giống lúa này trong sản xuất cho thấy tính thích nghi và sự chấp nhận của người dân rất cao. Vì sao giống lúa này tồn tại? Trước hết đây là giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn (85-90 ngày), đẻ nhánh khỏe, cứng cây trung bình, thích hợp nhiều loại đất, phù hợp với các mùa vụ sản xuất trong năm, nhất là vùng sản xuất 3 vụ/năm, cho năng suất cao đạt bình quân từ 7-9 tấn trong vụ đông xuân và 5-6 tấn trong vụ hè thu. Dễ canh tác, chịu được điều kiện thâm canh cao. Đây là những đặc tính mà có rất ít giống có thể đạt được. Tuy nhiên, giống lúa này có hàm lượng amylose cao khoảng 26-27% do vậy thuộc nhóm gạo cứng cơm không thích hợp cho việc nấu ăn của đa số người trong giai đoạn hiện nay, giống bạc bụng nhiều nên khó xuất khẩu vì thuộc nhóm chất lượng thấp; gạo IR 50404 chỉ phù hợp cho việc làm nguyên liệu chế biến các thực phẩm từ bột gạo như bún, bánh canh, bánh tráng, hủ tiếu… Vì sao khuyến cáo giảm tỉ lệ trồng giống lúa IR 50404? Phải nhìn nhận rằng, trong khi sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long là sản xuất lúa hàng hóa thì việc gia tăng chất lượng lúa, gạo để xuất khẩu được tốt hơn là hướng đi cần thiết, giống lúa IR 50404 nằm trong nhóm giống có chất lượng thấp nên giá bán không cao, lợi nhuận mang lại không nhiều và sức cạnh tranh kém. Do vậy nếu sản lượng trong năm quá nhiều thì việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ, xuất khẩu sẽ càng gặp thêm nhiều khó khăn và vòng xoay này cứ diễn ra hàng năm. Một tỉ lệ trồng vừa phải khoảng 10-15 % trong vụ đông xuân với diện tích khoảng 300 ngàn ha sản lượng khoảng 2 triệu tấn lúa ở một số vùng trồng lúa IR 50404 do có thị trường ổn định thu mua để làm thực phẩm chế biến, thu mua để pha trộn vào gạo xuất khẩu là tỉ lệ thích hợp trong nhiều năm qua. Không trồng lúa IR 50404 trong vụ hè thu vì chất lượng rất thấp không thể tiêu thụ nội địa và xuất khẩu được. Do vậy những năm nào tỉ lệ trồng cao hơn 15% trong vụ đông xuân và tiếp tục trồng trong vụ hè thu thì việc tiêu thụ lúa IR 50404 sẽ gặp nhiều khó khăn. Vì vậy để đảm bảo lợi ích cho nông dân và cho xuất khẩu gạo cơ quan chuyên môn và đơn vị chức năng xuất khẩu gạo luôn luôn khuyến cáo sản xuất giống IR 50404 với tỉ lệ không quá 10% diện tích trong vụ đông xuân và hạn chế đến mức tối đa trong vụ hè thu trong canh tác lúa hàng năm. Có những vụ lúa sản xuất với tỉ lệ vượt quá mưc khuyến cáo thì khó bán, thậm chí không có doanh nghiệp xuất khẩu nào mua. Điều này thường xãy ra trong vụ lúa hè thu và cứ lập lại trong nhiều năm. Bản thân giống lúa IR 50404 phải chịu nỗi oan khi người ta nhắc đến nó như là nguyên nhân làm trì trệ sản xuất, như là nguyên nhân làm khổ người nông dân mỗi khi không bán lúa được. Ai cũng đúng! Bản thân giống lúa IR 50404 đã từng một thời lên ngôi Vương – Hậu trong bình chọn giống, trong sản xuất và là sự lựa chọn số 1 trong kế hoạch mở rộng phát triển lúa vụ thu đông, sản xuất ở vùng khó khăn, vùng phèn Đồng Tháp mười… thập niên 90 của thế kỹ trước và những năm đầu thế kỹ 20. Và bây giờ, nếu như, phải nói thật sự là nếu như có một thị trường xuất khẩu gạo ổn định với việc thu mua khoảng vài triệu tấn gạo IR 50404 với giá có lợi nhuận tương đương với lúa chất lượng cao cho doanh nghiệp và nông dân thì canh tác giống lúa IR 50404 vẫn có thể diễn ra một cách bình thường như bao giống lúa khác. Chúng ta nên biết rằng sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long là sản xuất lúa hàng hóa và chúng ta bán những gì người khác mua chứ không bán những gì chúng ta có. Nhu cầu thị trường quyết định hướng sản xuất. Do vậy giống IR 50404 cũng bình đẵng về mặt thương mại như những giống lúa khác. Nhưng vì hiện không có thị trường tiêu thụ nên buộc phải giảm diện tích cho phù hợp. Doanh nghiệp có lúc mua lúc không vì thu mua theo nhu cầu cũng như đã nêu ở trên, do vậy lúc nào có thị trường thì mua, lúc nào không có thị trường thì không mua. Nông dân thấy doanh nghiệp mua thì trồng lúc trồng xong doanh nghiệp không có nhu cầu nữa thì lúa bị ế ẩm, dồn vào kho. Sự lệch pha diễn ra như một vòng lẩn quẩn. Nông dân cứ kêu ca, doanh nghiệp thì phớt lờ vì họ không chịu trách nhiệm, nhà nước thì nóng ruột tìm cách hỗ trợ, cơ quan chuyên môn thì bị cấp trên phê bình vì không theo sát sản xuất, không có giải pháp hạn chế diện tích và cơ quan chuyên môn thì trách lại doanh nghiệp, trách nông dân sao không thực hiện theo chỉ đạo, khuyến cáo… Đây là vòng lẩn quẩn thứ hai. Làm sao kiểm soát được việc sử dụng giống lúa trong sản xuất? Giống lúa thuần là giống cây trồng người sản xuất có thể tự để giống mà không cần phải mua giống của nhà sản xuất, trừ khi người sản xuất muốn sử dụng giống xác nhận để được tốt hơn. Hiện nay, người sản xuất được quyền sử dụng giống trên ruộng sản xuất của mình mà không bị ràng buộc bởi một quy định nào. Để kiểm soát được việc sử dụng giống lúa IR 50404 nói riêng và các giống lúa khác nói chung cần phải thực hiện nhiều yêu cầu sau: 1. Kiểm tra các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh giống. Việc kiểm tra này chỉ kiểm soát được 30% lượng giống lúa xác nhận đưa vào sản xuất mỗi vụ. 2. Kiểm tra các tổ hợp tác, tổ sản xuất giống. Việc kiểm tra này chỉ kiểm soát thêm được 30-40% lượng giống lúa xác nhận II đưa vào sản xuất mỗi vụ. 3. Quy hoạch vùng sản xuất tập trung và sản xuất theo đơn đặt hàng, đơn đặt hàng xác định giống lúa phải canh tác trong từng vụ, từng vùng. Điều này hiện nay đang gặp nhiều khó khăn vì chúng ta chưa có những hợp đồng bán hàng theo yêu cầu của khách hàng. 4. Khuyến cáo và tuyên truyền mạnh mẽ, có địa chỉ và diện tích sản xuất trong từng vùng, từng tỉnh và doanh nghiệp cũng chỉ mua số lượng lớn ở những vùng đã quy hoạch. Vùng không quy hoạch thì không tổ chức thu mua. Như vậy sẽ tạo thói quen vùng nguyên liệu IR 50404 mà không lan rộng ra các vùng khác. Câu chuyện giống lúa IR 50404 sẽ không dừng lại ở đây mà nó sẽ là một bài học có thể sẽ diễn ra với các giống lúa khác, vì những lý do khác nhau có thể không phải vì chất lượng thấp hay cao mà vì tính chống chịu sâu bệnh thấp hoặc có những đặc tính lý hóa không phù hợp với sức tiêu thụ trong tương lai. Những giống lúa là Vương – Hậu hôm nay có thể cũng sẽ phải nhận những điều tương tự như IR 50404 trong tương lai nếu cứ tiếp tục phương thức sản xuất không có sự kiểm soát về giống trong đồng ruộng như hiện nay.

Lúa Thu Đông 2011 trong vùng lũ

 LÚA THU ĐÔNG 2011 TRONG VÙNG LŨ

Cho đến nay, diện tích lúa thu đông ở ĐBSCL đã xuống giống 611.314 ha, cao hơn cùng kỳ năm 2011 xấp xĩ 100.000 ha, đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Riêng diện tích lúa thu đông tại 2 tỉnh An Giang, Đồng Tháp là 229.868 ha chiếm 37,6 % tổng diện tích lúa thu đông trong toàn vùng. Thiệt hại lúa thu đông mất trắng do lũ gây ra theo báo cáo mới nhất (ngày 1 tháng 10 năm 2011) của 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp là: 4.112 ha (trong đó An Giang: 3.392 ha và Đồng Tháp: 720 ha). Diện tích lúa mất trắng do lũ chiếm 1,78% tổng diện tích lúa thu đông của 2 tỉnh nêu trên và chiếm 0,67% diện tích lúa thu đông trong toàn vùng ĐBSCL. Hiện nay Đồng Tháp đã thu hoạch 74.681 ha đạt 76% diện tích xuống giống với năng suất bình quân khoảng 5,22 tấn/ha. An Giang đã thu hoạch 2.918 ha đạt 2,22% diện tích xuống giống với năng suất bình quân 5,26 tấn/ha.
Theo tổng hợp của Cục Trồng trọt diện tích thu hoạch lúa thu đông đã đạt 154.950 ha chiếm 25,3 % diện tích xuống giống, diện tích lúa còn lại trên đồng là 456.364 ha (273.818 ha đang trong giai đoạn đẻ nhánh, 136.909 ha giai đoạn trỗ và 45.636 ha giai đoạn chín).
Bất ngờ vùng lũ ?
Theo đánh giá chung của Trung tâm phòng chống lụt bão khu vực miền Nam – Cục quản lý đe điều và PCLB – Bộ NN & PTNT, mùa lũ năm 2011 về thời gian xuất hiện lũ là tương đối phù hợp với quy luật của lũ ở ĐBSCL trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, mực nước lũ năm nay lên nhanh và cao hơn dự báo ban đầu. Do lũ năm nay là lũ lớn nên phần lớn các tuyến đê bao, bờ bao các tỉnh đầu nguồn đều bị đe dọa.
Ông Trần Văn Nưng – Phó chủ tịch UBND tỉnh An Giang đánh giá tình hình công tác PCLB đã được triển khai quyết liệt tại tỉnh An Giang, công tác chuẩn bị đã được triển khai từ đầu năm và khẩn trương từ đầu mùa lũ, nước lũ đang có biểu hiện đứng lại, tuy nhiên vẫn phải đề phòng các cơn bảo có khả năng đổ bộ nước ta, do vậy vẫn phải tiếp tục cảnh giác cao với tình hình lũ còn kéo dài. Về thiệt hại do lũ Ông Nưng cho biết: Nước lũ lên nhanh với cường xuất lớn nên công tác chuẩn bị chưa đáp ứng kịp thời. Đê bao xây dựng đã nhiều năm nên có xuống cấp so với lũ lớn. Lực lượng tuần tra mõng, công tác tuần tra chưa thường xuyên vào đầu mùa lũ. Tuy nhiên Tỉnh An Giang sẽ quyết tâm giữ diện tích lúa còn lại đồng thời sẽ tính toán lại các cao trình đê bao về lâu dài. Đến năm 2015 diện tích sản xuất vụ thu đông trong toàn tỉnh sẽ đạt 195 ngàn ha.
Ông Nguyễn Văn Dương – Phó Chủ tịch UBND Tỉnh Đồng Tháp cho biết từ tháng 8 UBND tỉnh đã tổ chức đoàn đi kiểm tra tình hình lũ lụt, sạt lỡ bờ sông, công tác bảo vệ lúa thu đông tại các huyện Tam Nông, Thanh Bình, Tân Hồng, Hồng Ngự và Thị xã Hồng Ngự. Đồng Tháp đã triển khai công tác PCLB bảo vệ lúa thu đông đến tận xã, ấp. Dự kiến đến năm 2015 diện tích sản xuất lúa thu đông trong toàn tỉnh đạt 198 ngàn ha.
Bất ngờ vùng lũ ở đây không phải là lũ về nhanh, đột ngột với cường xuất cao, cũng không phải là công tác dự báo không tốt hay những thiệt hại do lũ gây ra cho lúa thu đông. Công tác triển khai phòng chống lũ, bão đã được các địa phương chuẩn bị từ rất sớm bằng việc huy động cả hệ thống chính trị cùng tham gia, khi đến tận vùng nước lũ đe dọa tính mạng, tài sản và lúa thu đông mới thấy hết và biết được những công sức, tài sản và thậm chí cả tính mạng bỏ ra để ngăn dòng lũ dữ, đã có một chiến sĩ tử vong trong lúc thực thi nhiệm vụ tại An Giang. Đã rất lâu mới có thể nhìn thấy lại cảnh các chiến sĩ, thanh niên, sinh viên trường học tập hợp và tham gia vào công tác đắp đê ngăn lũ, đã rất lâu mới thất được bà con góp gạo, góp rau, nấu cơm, nấu mì gói... phục vụ hậu cần cho anh em chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ cứu lúa, và cũng rất lâu mới có dịp đánh giá một cách chính xác và đúng đắn về tình quân – dân, về những tấm lòng của chiến sĩ, đồng bào trong cơn hoạn nạn, phòng chống thiên tai. Người dân cho biết sẳn sàng hiến đất, cây trồng, các phương tiện, vật tư để công tác phòng chống lũ cứu lúa được triển khai.
Tại An Giang đã triển khai nhiều lực lượng với hơn 35 ngàn người tham gia gồm: Trung đoàn 892, sư đoàn 330 thuộc Quân khu 9, Tiểu đoàn 5 – trung đoàn 2 Bộ Công An, tỉnh đội, biên phòng, công an tỉnh, Huyện đội, hội chữ thập đỏ, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, sinh viên đai học An Giang để gia cố hơn 380 km đê, đập tạm, cống bọng và vẫn tiếp tục gia cố thêm 600 km đê trong tổng số 1.000 km cần phải gia cố.
Tại Đồng Tháp đã huy động hơn 4.300 lượt người tham gia gia cố đê bao bảo vệ sản xuất nông nghiệp gồm bộ đội tỉnh, huyện, lực lượng công an, quân khu 9, Trường đại học Đồng Tháp, các ban ngành, đoàn thể và cả các chưa sắc tôn giáo cũng nhiệt tình tham gia để bảo vệ 670 ô đê bao sản xuất lúa trong toàn tỉnh, trong đó có khoảng 20 đê bao với diện tích gần 20.000 ha lúa có nguy cơ bị vở.
Đồng xanh giữa biển nước
Đến cánh đồng Ô Long Vĩ của huyện Châu Phú, tỉnh An Giang hay các cánh đồng lúa tại Thị Xã Hồng Ngự, huyện Tân Hồng , tỉnh Đồng Tháp mới thấy hết sự lạ kỳ của thiên nhiên và năng lực vô hạn của con người.
Giữa một vùng bao la nước lũ với hàng chục ngàn ha mặt nước nước mênh mông sóng vỗ, mực nước nơi cao nhất có thể đạt đến hơn 5 m so với mặt ruộng lại hiện hữu những cánh đồng lúa từ vài trăm ha đến vài ngàn ha, những cánh đồng lúa đang ở thời kỳ sung sức nhất với một màu xanh bát ngát đang đùa trong gió như không hề nhìn thấy sự đe dọa của thủy thần. Tất cả là công sức và là công sức của hàng vạn con người chống chọi với thiên nhiên trong cuộc mưu sinh trước đây và ngày nay là sự khẳng định trí tuệ, năng lực, khả năng thích ứng với những khắc nghiệt tự nhiên.
Một cánh đồng lúa xanh giữa biển nước mà nước lũ có thể san bằng bất cứ lúc nào và thực tế đã có những nơi không thể cầm cự được, sự “thất thủ” trước lũ -theo như cách gọi của người dân địa phương đã không hề làm nao núng quyết tâm của những người vẫn đang tiếp tục phòng chống lũ, và thực tế đã cho thấy hàng trăm ngàn ha lúa vẫn tiếp tục sinh trưởng và phát triển trên những cánh đồng trong vùng lũ.
Đánh giá cao công tác phòng chống lụt bão và bảo vệ lúa thu đông tại hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp, Thứ trưởng Bộ NN & PTNT Bùi Bá Bổng, Trưởng Đoàn công tác của Bộ NN & PTNT cho biết tình hình nước lũ sẽ còn có nhiều khả năng gây hại trong khoảng 10 ngày tới do vậy cần tiếp tục duy trì công tác gia cố đê bao, tăng cường tuần tra, giám sát và kịp thời có những phương án khả thi để bảo về sản xuất nói chung và lúa thu đông nói riêng. Về kinh phí hỗ trợ cho khắc phục lũ, hỗ trợ thiệt hại tỉnh cần có các đề nghị cụ thể và chi tiết hơn đồng thời cũng cần quy hoạch vùng sản xuất lúa thu đông thật an toàn, có phương án xã lũ để vừa duy trì sản lượng vừa giảm áp lực lũ và nâng cao độ an toàn cho sản xuất lúa thu đông.
Đánh giá về sản xuất lúa Thu đông 2011, Thứ trưởng Bùi Bá Bổng cũng nhận định về cơ bản những thiệt hại trên lúa thu đông là đáng quan tâm, Tuy nhiên nhìn toàn diện về sản xuất lúa thu đông năm 2011 là thành công về diện tích, sản lượng và công tác bảo vệ sản xuất trong mùa lũ lịch sử, nếu giữ vững được diện tích lúa thu đông còn lại thì việc sản xuất lúa thu đông tại ĐBSCL trong những năm tới là điều hoàn toàn có thể thực hiện được tốt hơn.

Công tác phòng chống lũ vẫn còn đang tiếp tục, vẫn còn những nguy hiểm rình rập và vẫn còn phải tốn thêm nhiều công sức, tiền của của nhân dân và của nhà nước. Tuy nhiên lũ lịch sử năm 2011 ở ĐBSCL cũng cho chúng ta tiếp những bài học quý giá về năng lực tổ chức, triển khai phòng chống lũ, kinh nghiệm cần rút ra trong những năm tới và công tác bố trí lại thời vụ sản xuất lúa. Lũ năm 2011 cũng cho thấy các tuyến đê bao kiên cố kết hợp với giao thông và cụm tuyến dân cư vừa đảm bảo an toàn cho sản xuất, vừa nâng cấp giao thông và cụm dân cư thoát lũ với hình thức 3 trong 1 sẽ đạt được nhiều lợi ích hơn. Lũ lịch sử năm 2011 và công tác bảo vệ lúa thu đông thành công cho đến lúc này đã khẳng định thêm về chủ trương và những hiệu quả mang lại của sản xuất lúa thu đông trong từng hộ nông dân nói riêng và trong toàn vùng ĐBSCL nói chung.

LIÊN KẾT DOANH NGHIỆP VÀ NÔNG DÂN TRONG “CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN”


LIÊN KẾT DOANH NGHIỆP VÀ NÔNG DÂN TRONG 
“CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN”
Phạm Văn Dư [1],  Lê Thanh Tùng[2]
Mục tiêu xây dựng mô hình “cánh đồng mẫu lớn” để đạt đến sản xuất và tiêu thụ nông sản theo hợp đồng, chủ động trong sản xuất, điều tiết và tiêu thụ lúa gạo. Tuy nhiên, hiện nay mối liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp thu mua lúa vẫn chưa được tốt, các tiêu chí về lúa để doanh nghiệp thu mua chưa được công bố, việc sản xuất theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp chưa phổ biến.
Vấn đề đặt ra là tại sao vẫn chưa thể thực hiện tốt mối liên kết này trong khi cả nước đến ngày 14 tháng 2 năm 2012 có 153 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo? Thật ra cũng đã có nhiều doanh nghiệp tham gia thu mua như: Công ty cổ phần BVTV An Giang, Công ty GenTraCo, công ty cổ phần Lương thực Long An, Tiền Giang, Hậu Giang, Vĩnh Long, các doanh nghiệp tư nhân Hồ Quang, Thành Tín, Ngọc MeKong, Lộc Nguyên, Thới Thạnh, Trung An, Arimex… Tuy nhiên, năng lực và số lượng thu mua vẫn còn hạn chế. Có lẽ có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế tham gia của các doanh nghiệp thu mua lúa, có thể là sự ràng buộc pháp lý chưa rõ ràng, nông dân đòi hỏi giá cả và lợi nhuận vượt quá sự thỏa thuận, không đảm bảo các yếu tố, tiêu chuẩn hoặc doanh nghiệp không chịu chia sẽ rũi ro, không đảm bảo thời gian thu mua theo thỏa thuận… Điều này thường xãy ra với nhiều hợp đồng thu mua nông sản giữa doanh nghiệp và nông dân. Mối liên kết này trong “cánh đồng mẫu lớn” cũng không là ngoại lệ.
Chúng ta đang trong quá trình xây dựng và triển khai mô hình “cánh đồng mẫu lớn” tiến tới xây dựng vùng nguyên liệu và sản xuất thu mua theo hợp đồng vì vậy những trục trặc, khó khăn vấp phải cũng là điều đương nhiên, sẽ có nhiều bước điều chỉnh và hoàn thiện các phương thức hợp tác được tốt hơn trong tương lai dựa trên những cơ sở lợi ích thiết thực và hiệu quả cho cả doanh nghiệp và nông dân.
Nông dân cần gì trong “cánh đồng mẫu lớn” ? Thật ra, trong “cánh đồng mẫu lớn” nông dân cần nhiều thứ không chỉ là việc thu mua lúa, nông dân cần vốn để tái đầu tư cho sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất, nhà, kho, mua máy móc, trang thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp theo một phương thức liên kết sản xuất mới, nông dân cần được đào tạo, hướng dẫn KHKT, gia tăng chất lượng, giá trị, thông tin thị trường  để tăng lợi nhuận thu được, cần những dịch vụ phục vụ trong suốt quá trình canh tác lúa.
Doanh nghiệp cần gì? Doanh nghiệp cũng cần vốn và  lãi suất ưu đãi để mở rộng và tăng hiệu quả kinh doanh, cần quảng bá và bán sản phẩm với chi phí thấp nhất, cần tập hợp nông dân và thu hồi công nợ dễ dàng thuận tiện cho hoạt động thương mại, dịch vụ, cần có một nguồn nguyên liệu thu mua ổn định về số lượng, chất lượng và đảm bảo về thời gian…
Và hơn hết cả doanh nghiệp và nông dân đều cần có sự ràng buộc bằng niềm tin hơn là bằng thiết chế, pháp lý. Vì việc xử lý những sai phạm trong giao dịch thương mại, phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại giữa nông dân và doanh nghiệp thường không mang lại kết quả cao.
Liên kết “4 nhà” mà thực chất giờ đây là liên kết “2 nhà” nhà nông và doanh nghiệp, sản xuất và tiêu thụ đang cần được sự hỗ trợ thúc đẩy hoạt động giao dịch được suôn sẽ, hiệu quả và bền vững. Hoạt động giao dịch này không chỉ được đặt trong “cánh đồng mẫu lớn” mà trong hoạt động rộng lớn hơn về kinh tế, xã hội và văn hóa trong sản xuất, kinh doanh. Liên kết 4 nhà với vai trò tổ chức của Nhà nước và chuyển giao KHKT của nhà khoa học hầu như luôn được thực hiện trôi chảy trong tất cả mọi liên kết, nhưng nếu như không có sự đồng thuận của nông dân và quan trọng hơn không có sự tham gia thu mua của doanh nghiệp thì xem như mối liên kết này sẽ thất bại. Dù có bất cứ những nỗ lực nào đi nữa mà nông sản không được tiêu thụ thì mô hình hay phong trào sản xuất sẽ bị trì trệ.
Nông dân có vị trí quan trọng trong thực hiện giao dịch thương mại nông sản, nông dân cần phải biết và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ pháp lý của mình đồng thời phải hiểu và yêu cầu doanh nghiệp làm tròn trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp. Có thể hiện nay hầu hết nông dân đều chưa hiểu biết những vấn đề này, nhưng trong tương lai phải được tập huấn và đào tạo về pháp luật thương mại với những yêu cầu căn bản nhất. Đây là nền tảng để thực hiện các hợp đồng thương mại nông sản không chỉ giữa nông dân và doanh nghiệp trong nước mà còn giữa nông dân và doanh nghiệp nước ngoài. Việc biên soạn những giáo trình đơn giãn, dễ hiểu nhưng thiết thực để cung cấp thông tin pháp lý cho nông dân trong giao dịch thương mại hiện chưa được một cơ quan, đơn vị nào thực hiện.
Liên kết Nông dân – doanh nghiệp để tồn tại
Áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật và sử dụng các dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp chỉ phát huy hiệu quả tối đa khi thực hiện theo thời gian nhất định và đồng loạt trên một diện tích lớn, diện tích lớn này chỉ có thể thực hiện khi nông dân liên kết lại sản xuất trong “cánh đồng mẫu lớn” hình thức sở hữu đất đai không thay đổi nhưng phương thức sản xuất có sự thay đổi tích cực, hiệu quả, giảm chi phí, tăng giá trị và góp phần tạo ưu thế cho doanh nghiệp trong cạnh tranh khi có được những sản phẩm mang tính riêng biệt và giá trị, giá cả có lợi thế.
Sản xuất và xuất khẩu lúa, gạo hàng hóa của Việt Nam gần đây đang vấp phải sự canh tranh gay gắt của các quốc gia sản xuất lúa như Ấn Độ, Pakistan và một số nước nhập khẩu gạo đã tự cân đối lương thực hoặc tự cân đối một phần như Bangladesh và các quốc gia mới tham gia xuất khẩu như: Campuchia, Myanmar…
Giá gạo trắng xuất khẩu cùng loại của Việt Nam đang thấp hơn về chất lượng và giá với các quốc gia xuất khẩu gạo
Giá gạo trắng 5% tấm của Việt Nam thấp hơn giá cùng loại của Ấn Độ và Pakistan từ 50-60 USD/ tấn.
Giá gạo 25% tấm của Việt Nam thấp hơn giá cùng loại của Ấn Độ và Pakistan từ 15-20 USD/ tấn.
Giá gạo thơm Việt Nam 5% tấm từ 615-625 USD/tấn, trong khi Thai Hom Mali 100% giá 615-625 USD/tấn, Indian basmati 2% giá 1.055-1.065 USD/ tấn và Paki basmati 2% giá 1.015-1.025 USD/ tấn.
Trong sản xuất lúa, chúng ta hoàn toàn có thể cải thiện hơn nữa về giá thành, chất lượng, giá trị, thương hiệu để có thể nâng cao giá, nâng cao lợi nhuận hoặc có thể cạnh tranh giá mà lợi nhuận cũng không đổi cho cả doanh nghiệp và nông dân. Phương thức sản xuất trong “cánh đồng mẫu lớn” là tiền đề để triển khai thực hiện những mong muốn cải thiện này. Doanh nghiệp và nông dân phải cùng hợp lực đồng thuận và chia sẽ nếu không bắt tay và hợp tác, liên kết thì sản xuất và xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam sẽ vẫn như hiện nay và giá cả, lợi nhuận sẽ theo chiều hướng giảm dần.   
Liên kết nông dân – doanh nghiệp để cùng thắng
Nông dân không có nhiều cơ hội và khả năng để tiếp cận và bán sản phẩm hàng hóa của mình sản xuất, các HTX, doanh nghiệp nông nghiệp do chính người nông dân tổ chức và quản lý chưa đủ mạnh, chưa đủ tiềm lực về vốn, thương mại và nhân lực, năng lực trong thương trường. Doanh nghiệp nếu chỉ hoạt động thương mại thì bấp bênh về sản phẩm, thiếu tính ổn định và không có nhiều cơ hội tốt trong thương thảo, giao hàng do không có nguồn nguyên liệu ổn định, không chủ động được sản phẩm khi chào hàng… Doanh nghiệp kinh doanh vật tư nông nghiệp có hệ thống đại lý nhưng không biết sản phẩm và chất lượng sản phẩm của mình được nông dân chấp nhận đến đâu và cũng không chắc được người mua ổn định khi có những biến động về giá, về sự cạnh tranh hay những nhu cầu thật sự của người sử dụng sản phẩm về thời gian và không gian.
Nếu biết chắc rằng số lượng, chủng loại và thời gian sản xuất để cung ứng cho người sử dụng là bao nhiêu, lúc nào, ở đâu thì doanh nghiệp sẽ yên tâm và chủ động hơn và nếu biết canh tác lúa gì, bán cho ai, giá bao nhiêu, vào lúc nào và có thể biết luôn lợi nhuận có thể có được là bao nhiêu, từ đâu thì nông dân sẽ yên tâm sản xuất và cũng sẽ hạn chế đến mức thấp nhất những rũi ro có thể xãy ra. Doanh nghiệp sản xuất để nông dân tiêu thụ và ngược lại nông dân sản xuất để doanh nghiệp tiêu thụ nông sản là một vòng chu chuyển giữa 2 đối tượng có những nhu cầu và lợi ích có thể san sẽ nhau trong cùng một không gian và thời gian đó chính là lợi thế để phát triển cho cả hai.
Liên kết để cùng thắng không chỉ có ý nghĩa với từng hộ nông dân riêng lẽ với doanh nghiệp riêng lẽ mà có ý nghĩa phạm vi, quy mô rộng lớn hơn của địa phương và của quốc gia.
Liên kết nông dân – doanh nghiệp để lợi ích kép
Tham gia “cánh đồng mẫu lớn” nông dân sẽ tiết kiệm được chi phí sản xuất vì canh tác theo một quy trình, đồng loạt và các dịch vụ như làm đất, thủy lợi, giống, phân bón, thuốc BVTV, cơ giới hóa, phơi sấy… dễ dàng thực hiện và trong các dịch vụ phục vụ sản xuất này có nhiều dịch vụ sẽ thấp hơn khi hoạt động riêng lẽ như làm đất, phânbón, thuốc BVTV, thu hoạch, sấy, có những dịch vụ làm gia tăng chất lượng lúa, gạo như giống, kỹ thuật tưới, phòng từ dịch hại… chưa kể nếu canh tác theo hướng GAP chi phí sản xuất sẽ giảm đáng kể mà năng suất chất lượng lại gia tăng và nếu xây dựng thêm thương hiệu thì lợi ích của nông dân là lợi ích kép: Giảm chí phí, giảm giá thành, tăng giá trị, tăng lợi nhuận.
Tham gia “cánh đồng mẫu lớn” doanh nghiệp bán hàng trực tiếp cho nông dân, tiếp xúc và gặp gỡ chính đối tượng đã đóng góp cho sự tồn tại và phát triển của công ty, doanh nghiệp có cơ hội nắm bắt chính xác được nhu cầu và những phản hồi đối với sản phẩm của mình, có được một thị trường tiêu thụ ổn định và lâu dài, có nhiều cơ hội để điều chỉnh chính sách bán hàng giữa doanh nghiệp đại lý và nông dân một cách hài hòa, chia sẽ đúng lợi nhuận. Doanh nghiệp mua lúa có sự chủ động và có nguồn nguyên liệu chế biến, tiêu thụ ổn định, có được một “hậu  phương” để có thể thỏa mãn những yêu cầu khó khăn nhất của khách hàng và có cơ hội để đáp ứng sản phẩm chất lượng cao, ổn định, lâu dài và lợi nhuận cũng theo đó mà gia tăng. Nói cách khác doanh nghiệp thu mua lúa trở thành một “công tử Bạc liêu” với những cánh đồng ruộng thẳng cánh cò bay, có thể yêu cầu nông dân sản xuất lúa theo chủ ý của mình để bán được có lời nhiều hơn mà không cần phải tốn tiền để thu gom đất đai hay sở hữu thực sự theo một hình thức nào khác mà nếu nhà nước có cho phép thì cũng không có doanh nghiệp nào có thể mua nỗi đất đai để làm vùng nguyên liệu cho mình chưa kể phải đầu tư cơ sở hạ tầng, quản lý và thuê mướn lao động sản xuất… và hàng loạt những chi phí khác trong suốt quá trình sản xuất lúa. Đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 1,7 triệu ha đất canh tác lúa với khoảng 4 triệu ha gieo trồng và sản lượng lúa hàng hóa khoảng 10-12 triệu tấn mỗi năm và 153 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo có thể khai thác vùng nguyên liệu từ quỹ đất đai này. Thế mà vẫn chưa thể có được một vùng nguyên liệu đúng nghĩa với xuất phát điểm là “cánh đồng mẫu lớn” đã được triển khai từ hơn 1 năm nay.
Liên kết gì trong “cánh đồng mẫu lớn” giữa nông dân – doanh nghiệp
Liên kết ở đây được hiểu là có sự hỗ trợ từ hai phía và dựa trên nền tảng minh bạch, hài hòa lợi ích. Muốn vậy phải thỏa mãn được câu hỏi hai phía cần gì để cùng phát triển.
Như đã trình bày ở trên, nhưng trong  phạm vi liên kết “2 nhà” trong “cánh đồng mẫu lớn” thì nông dân cần: dịch vụ phục vụ sản xuất lúa tốt nhất với giá thấp nhất, giống lúa, phân bón, thuốc BVTV tốt, hiệu quả, giá cả hợp lý. Lúa được mua đúng thời điểm, giá cả phù hợp và các doanh nghiệp giữ đúng lời hứa. Ngược lại doanh nghiệp cũng cần nông dân tuân thủ các quy trình sản xuất, quy định về sử dụng hàng hóa, cam kết có đúng và có đủ lúa với những phẩm chất theo đặt hàng. Sự liên kết này cần có sự ràng buộc bằng niềm tin và hợp đồng thương mại.
Những doanh nghiệp đầu vào về phân bón như Công ty cổ phần Phân bón Bình Điền với những cam kết và thực thi rất tốt với hàng chục ngàn ha “cánh đồng mẫu lớn” mỗi vụ lúa trong thời gian qua về cung ứng phân bón chất lượng, giá cả hợp lý cho người dân. Công ty cổ phần BVTV An Giang thực hiện hẵn một chương trình đầu tư thu mua và chế biến lúa gạo thông qua các hợp đồng hợp tác sản xuất lúa hàng hóa với nông dân đạt hiệu quả cao. Công ty cổ phần GenTraco và một vài công ty cổ phần lương thực ở các tỉnh hợp đồng thu mua toàn bộ lúa trong “cánh đồng mẫu lớn” là những liên kết rất có hiệu quả cần được tiếp tục mở rộng.
Về lâu dài sự liên kết này phải tích cực hơn nữa. Trước hết doanh nghiệp trong liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp là doanh nghiệp tiêu thụ đóng vai trò chủ đạo. Doanh nghiệp khép kín đầu tư VTNN đầu vào và tiêu thụ đầu ra là một mô hình hoàn hảo, tiếc thay chúng ta có quá ít doanh nghiệp theo hình thức này và nếu có thì năng lực cũng hạn chế. Do vậy vai trò đầu mối của doanh nghiệp thu mua là liên kết được với các doanh nghiệp đầu vào để cung ứng VTNN và thu mua sản phẩm của nông dân. Nông dân chỉ giao dịch với một doanh nghiệp duy nhất trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, phần còn lại là hợp đồng giữa các doanh nghiệp với nhau. Phương án này có nhiều khả năng thực hiện được vì nó có thể phát huy được năng lực của rất nhiều doanh nghiệp nhỏ trong nhiều lĩnh vực.
Sự minh bạch và hài hòa lợi ích là một sự liên kết bền chặt và lâu dài: Minh bạch về giá bán, giá mua, về hợp đồng cung ứng và minh bạch cả về lợi nhuận của doanh nghiệp và nông dân sẽ góp phần chia sẻ gánh nặng về áp lực cạnh tranh của nông dân với doanh nghiệp khi có những khó khăn trong giá cả tiêu thụ sản phẩm khi doanh nghiệp phải đối phó với thị trường xuất khẩu.
Minh bạch và hài hòa lợi ích giữa các doanh nghiệp và nông dân sẽ hạn chế rũi ro khi hàng hóa nông sản dư thừa, hạn chế sự bẻ kèo của cả hai phía.
Trong tương lai sự cạnh tranh là cạnh tranh vùng nguyên liệu, cạnh tranh giá thành để có được lợi nhuận và sự cạnh tranh này là giữa Việt Nam với các nước có hàng hóa nông sản tương tự chứ không phải là sự cạnh tranh giữa các doang nghiệp trong nước với nhau và vì vậy còn có vai trò rất lớn của nông dân trong sự cạnh tranh quốc gia về giá thành, chất lượng và giá trị hàng hóa nông sản. Nông dân đóng góp vai trò tích cực cho hiệu quả của xuất khẩu nông sản và trực tiếp đóng góp cho sự phát triển của doanh nghiệp từ chính những sản phẩm chất lượng, giá thành hạ của nông dân. Doanh nghiệp phải hỗ trợ lại nông dân trong việc thỏa mãn các tiêu chí sản phẩm và đồng hành cùng người dân thực hiện các tiêu chí này để doanh nghiệp tồn tại. Đó không chỉ là sự sòng phẳng, minh bạch trong mua bán mà đó còn là văn hóa, tình người và trách nhiệm trước phát triển kinh tế nông nghiệp quốc gia.


[1] PGS.TS – Phó Cục Trưởng Cục Trồng trọt – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
[2] Thạc sĩ – Phó trưởng phòng Cục Trồng trọt – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

CẦN NHÌN NHẬN KHÁCH QUAN VỀ GIỐNG LÚA IR 50404

CẦN NHÌN NHẬN KHÁCH QUAN VỀ GIỐNG LÚA IR 50404 
Giống lúa IR 50404 có nguồn gốc từ Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) được nhập nội vào Việt Nam năm 1990 và được công nhận đặc cách năm 1992. Theo tác giả giống lúa này – Tiến sĩ Đỗ Khắc Thịnh – Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam giống được phóng thích đầu tiên tại huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang và vùng Đồng Tháp Mười của Long An, Đồng Tháp và nhanh chóng lan rộng trong sản xuất lúa cho đến nay. Đây là một trong số rất ít giống lúa tồn tại trong sản xuất gần 20 năm. Sức sống và sự tồn tại của giống lúa này trong sản xuất cho thấy tính thích nghi và sự chấp nhận của người dân rất cao. Vì sao giống lúa này tồn tại? Trước hết đây là giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn (85-90 ngày), đẻ nhánh khỏe, cứng cây trung bình, thích hợp nhiều loại đất, phù hợp với các mùa vụ sản xuất trong năm, nhất là vùng sản xuất 3 vụ/năm, cho năng suất cao đạt bình quân từ 7-9 tấn trong vụ đông xuân và 5-6 tấn trong vụ hè thu. Dễ canh tác, chịu được điều kiện thâm canh cao. Đây là những đặc tính mà có rất ít giống có thể đạt được. Tuy nhiên, giống lúa này có hàm lượng amylose cao khoảng 26-27% do vậy thuộc nhóm gạo cứng cơm không thích hợp cho việc nấu ăn của đa số người trong giai đoạn hiện nay, giống bạc bụng nhiều nên khó xuất khẩu vì thuộc nhóm chất lượng thấp; gạo IR 50404 chỉ phù hợp cho việc làm nguyên liệu chế biến các thực phẩm từ bột gạo như bún, bánh canh, bánh tráng, hủ tiếu… Vì sao khuyến cáo giảm tỉ lệ trồng giống lúa IR 50404? Phải nhìn nhận rằng, trong khi sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long là sản xuất lúa hàng hóa thì việc gia tăng chất lượng lúa, gạo để xuất khẩu được tốt hơn là hướng đi cần thiết, giống lúa IR 50404 nằm trong nhóm giống có chất lượng thấp nên giá bán không cao, lợi nhuận mang lại không nhiều và sức cạnh tranh kém. Do vậy nếu sản lượng trong năm quá nhiều thì việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ, xuất khẩu sẽ càng gặp thêm nhiều khó khăn và vòng xoay này cứ diễn ra hàng năm. Một tỉ lệ trồng vừa phải khoảng 10-15 % trong vụ đông xuân với diện tích khoảng 300 ngàn ha sản lượng khoảng 2 triệu tấn lúa ở một số vùng trồng lúa IR 50404 do có thị trường ổn định thu mua để làm thực phẩm chế biến, thu mua để pha trộn vào gạo xuất khẩu là tỉ lệ thích hợp trong nhiều năm qua. Không trồng lúa IR 50404 trong vụ hè thu vì chất lượng rất thấp không thể tiêu thụ nội địa và xuất khẩu được. Do vậy những năm nào tỉ lệ trồng cao hơn 15% trong vụ đông xuân và tiếp tục trồng trong vụ hè thu thì việc tiêu thụ lúa IR 50404 sẽ gặp nhiều khó khăn. Vì vậy để đảm bảo lợi ích cho nông dân và cho xuất khẩu gạo cơ quan chuyên môn và đơn vị chức năng xuất khẩu gạo luôn luôn khuyến cáo sản xuất giống IR 50404 với tỉ lệ không quá 10% diện tích trong vụ đông xuân và hạn chế đến mức tối đa trong vụ hè thu trong canh tác lúa hàng năm. Có những vụ lúa sản xuất với tỉ lệ vượt quá mưc khuyến cáo thì khó bán, thậm chí không có doanh nghiệp xuất khẩu nào mua. Điều này thường xãy ra trong vụ lúa hè thu và cứ lập lại trong nhiều năm. Bản thân giống lúa IR 50404 phải chịu nỗi oan khi người ta nhắc đến nó như là nguyên nhân làm trì trệ sản xuất, như là nguyên nhân làm khổ người nông dân mỗi khi không bán lúa được. Ai cũng đúng! Bản thân giống lúa IR 50404 đã từng một thời lên ngôi Vương – Hậu trong bình chọn giống, trong sản xuất và là sự lựa chọn số 1 trong kế hoạch mở rộng phát triển lúa vụ thu đông, sản xuất ở vùng khó khăn, vùng phèn Đồng Tháp mười… thập niên 90 của thế kỹ trước và những năm đầu thế kỹ 20. Và bây giờ, nếu như, phải nói thật sự là nếu như có một thị trường xuất khẩu gạo ổn định với việc thu mua khoảng vài triệu tấn gạo IR 50404 với giá có lợi nhuận tương đương với lúa chất lượng cao cho doanh nghiệp và nông dân thì canh tác giống lúa IR 50404 vẫn có thể diễn ra một cách bình thường như bao giống lúa khác. Chúng ta nên biết rằng sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long là sản xuất lúa hàng hóa và chúng ta bán những gì người khác mua chứ không bán những gì chúng ta có. Nhu cầu thị trường quyết định hướng sản xuất. Do vậy giống IR 50404 cũng bình đẵng về mặt thương mại như những giống lúa khác. Nhưng vì hiện không có thị trường tiêu thụ nên buộc phải giảm diện tích cho phù hợp. Doanh nghiệp có lúc mua lúc không vì thu mua theo nhu cầu cũng như đã nêu ở trên, do vậy lúc nào có thị trường thì mua, lúc nào không có thị trường thì không mua. Nông dân thấy doanh nghiệp mua thì trồng lúc trồng xong doanh nghiệp không có nhu cầu nữa thì lúa bị ế ẩm, dồn vào kho. Sự lệch pha diễn ra như một vòng lẩn quẩn. Nông dân cứ kêu ca, doanh nghiệp thì phớt lờ vì họ không chịu trách nhiệm, nhà nước thì nóng ruột tìm cách hỗ trợ, cơ quan chuyên môn thì bị cấp trên phê bình vì không theo sát sản xuất, không có giải pháp hạn chế diện tích và cơ quan chuyên môn thì trách lại doanh nghiệp, trách nông dân sao không thực hiện theo chỉ đạo, khuyến cáo… Đây là vòng lẩn quẩn thứ hai. Làm sao kiểm soát được việc sử dụng giống lúa trong sản xuất? Giống lúa thuần là giống cây trồng người sản xuất có thể tự để giống mà không cần phải mua giống của nhà sản xuất, trừ khi người sản xuất muốn sử dụng giống xác nhận để được tốt hơn. Hiện nay, người sản xuất được quyền sử dụng giống trên ruộng sản xuất của mình mà không bị ràng buộc bởi một quy định nào. Để kiểm soát được việc sử dụng giống lúa IR 50404 nói riêng và các giống lúa khác nói chung cần phải thực hiện nhiều yêu cầu sau: 1. Kiểm tra các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh giống. Việc kiểm tra này chỉ kiểm soát được 30% lượng giống lúa xác nhận đưa vào sản xuất mỗi vụ. 2. Kiểm tra các tổ hợp tác, tổ sản xuất giống. Việc kiểm tra này chỉ kiểm soát thêm được 30-40% lượng giống lúa xác nhận II đưa vào sản xuất mỗi vụ. 3. Quy hoạch vùng sản xuất tập trung và sản xuất theo đơn đặt hàng, đơn đặt hàng xác định giống lúa phải canh tác trong từng vụ, từng vùng. Điều này hiện nay đang gặp nhiều khó khăn vì chúng ta chưa có những hợp đồng bán hàng theo yêu cầu của khách hàng. 4. Khuyến cáo và tuyên truyền mạnh mẽ, có địa chỉ và diện tích sản xuất trong từng vùng, từng tỉnh và doanh nghiệp cũng chỉ mua số lượng lớn ở những vùng đã quy hoạch. Vùng không quy hoạch thì không tổ chức thu mua. Như vậy sẽ tạo thói quen vùng nguyên liệu IR 50404 mà không lan rộng ra các vùng khác. Câu chuyện giống lúa IR 50404 sẽ không dừng lại ở đây mà nó sẽ là một bài học có thể sẽ diễn ra với các giống lúa khác, vì những lý do khác nhau có thể không phải vì chất lượng thấp hay cao mà vì tính chống chịu sâu bệnh thấp hoặc có những đặc tính lý hóa không phù hợp với sức tiêu thụ trong tương lai. Những giống lúa là Vương – Hậu hôm nay có thể cũng sẽ phải nhận những điều tương tự như IR 50404 trong tương lai nếu cứ tiếp tục phương thức sản xuất không có sự kiểm soát về giống trong đồng ruộng như hiện nay.

Vài lưu ý khi cung cấp chất trung vi lượng cho cây trồng

Vài lưu ý khi cung cấp chất trung vi lượng cho cây trồng Lê Thanh Tùng Hiện nay, một số dưỡng chất trung lượng như Can xi (Ca), Ma giê (Mg), Lưu huỳnh (S) và các chất vi lượng như Đồng (Cu), Kẽm (Zn), Bo (B), Mangan (Mn), Molipden (Mo), Sắt (Fe), Clo (Cl)…đã được chú ý nhiều trong canh tác cây trồng. Có nhiều quan điểm về đánh giá các dưỡng chất này trong đất và cách cung cấp cho cây trồng. Theo PGS.TS Nguyễn Bảo Vệ, Khoa NN và SHUD trường Đại Học Cần Thơ, lượng dinh dưỡng tính bằng kg cây lúa lấy từ đất để tạo ra 1 tấn hạt gồm: N (đạm): 17,5; P (lân): 3,0; K (ka-li): 17,0; Ca (can-xi): 4,0; Mg (Ma-giê): 3,5; S (lưu huỳnh): 1,8; Fe (sắt): 0,5; Mn (măn-gan) 0,5. Khái quát hàm lượng một số các dưỡng chất trong đất ở ĐBSCL như sau: 0,1% N; 0,1% P2O5; 3,9% K2O; 0,57% CaO; 1,72% MgO; 63,5% SiO2; 13,53% Al2O3; 5,64% Fe2O3; 0,09% MnO… Tác dụng của các chất trung vi lượng đối với đất và cây trồng đã được đề cập rất nhiều, như can xi là thành phần của màng tế bào, giúp cho màng tế bào vững chắc, .. Magiê là thành phần cấu tạo của diệp lục tố, thúc đẩy hấp thụ và vận chuyển lân,.. Lưu huỳnh liên quan đến hoạt động trao đổi chất của Vitamin, giúp cấu trúc của protein được vững chắc, Bo ảnh hưởng đến hoạt động của một số enzim, tác dụng tăng khả năng thấm ở màng tế bào, làm cho việc vận chuyển hydrat carbon được dễ dàng. Bo liên quan đến quá trình tổng hợp protein, liqnin, thiết yếu đối với sự phân chia tế bào và quá trình thụ phấn ở cây… Tuy nhiên, để phát triển bình thường, cây trồng cần một tỉ lệ xác định các nguyên tố cần thiết cho quá trình sống, khi tỉ lệ này đạt mức cân bằng thì cây trồng phát triển và cho năng suất cao, các nguyên tố dinh dưỡng có mối tương tác với nhau nên việc cung cấp nguyên tố này sẽ tác động đến một hay một số nguyên tố khác, khi bón nguyên tố này làm cây hút nhiều hơn nguyên tố khác làm năng suất tăng lên đó là tương tác dương hoặc ngược lại khi bón nguyên tố này làm cây hút ít hơn nguyên tố khác và năng suất giảm đó là tương tác âm. Do vậy việc cung cấp các chất trung vi lượng cho cây trồng trước hết cần phải được xem xét hàm lượng các chất này có trong phân bón và có trong đất, tỉ lệ phù hợp của các chất trung vi lượng có trong phân bón cho biết các chất này có thể phát huy tác dụng trong đất và được cây trồng hấp thu hay không, sự hiện diện của các chất này phải dựa trên cơ sở cân bằng hóa học trong phân bón và trong đất. Mặt khác, các chất tan khi phun phân bón lá xâm nhập vào lá qua các đường sau: Qua lớp cutin – sáp; qua khe hỡ trên lớp biểu bì; qua khí khẩu và qua màng tế bào và sự hấp thu của lá còn chịu ảnh hưởng của chất bám dính & chất làm mềm lớp sáp; kích thước chất tan và thành phần trong phân bón lá Từ những đặc điểm trên đặt ra một số vấn đề cần lưu ý trong việc sử dụng phân bón có chứa các nguyên tố trung vi lượng cung cấp cho cây trồng: (i) Trước hết là việc quản lý đăng ký hàm lượng và thành phần các chất trung vi lượng có trong các loại phân bón hiện nay để đánh giá tính hợp lý và tác dụng của các nguyên tố này khi được sử dụng. (ii) Phải xem xét nguyên liệu và công nghệ sản xuất phân bón để biết được ngoài thành phần và hàm lượng thì kích thước các chất tan này có thể xâm nhập được qua lá hay không? (iii) Cần phải có những khuyến cáo có cơ sở về thay đổi tập quán canh tác và sự cung cấp dinh dưỡng qua lá ở các thời kỳ sinh trưởng khác nhau của các loại cây trồng trong những mùa vụ và đất đai khác nhau… để phát huy được hiệu quả của canh tác và lợi ích cho nông dân. Hiện nay, có nhiều loại phân bón lá, bón rễ, tưới gốc.. với rất nhiều thành pah62n và hàm lượng các chất trung vi lượng khác nhau nhưng việc kiểm soát và sử dụng hiệu quả cho cây trồng hầu như chưa được cơ quan nào tổng kết và khuyến cáo trên các cơ sở khoa học và thực tiễn. Điều này, đang là đòi hỏi của sản xuất trước mắt và lâu dài cho một chiến lược sử dụng hiệu quả phân bón cho cây trồng.

Thứ Tư, 13 tháng 4, 2011

Tiêu chí thực hiện cánh đồng mẫu lớn



KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI XÂY DỰNG “CÁNH ĐỒNG LỚN” TẠI CÁC TỈNH, THÀNH NAM BỘ

Tháng 5 năm 2006 lãnh đạo Bộ NN – PTNT có ý kiến về việc xây dựng kế hoạch và triển khai mô hình sản xuất và tiêu thụ 1 triệu tấn lúa chất lượng cao tại vùng ĐBSCL (gọi tắt là mô hình 1 triệu tấn lúa CLC).
Mục tiêu của mô hình là phát triển lúa gạo xuất khẩu ổn định, bền vững, có hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo lợi ích cho người sản xuất lúa và doanh nghiệp xuất khẩu, phát huy lợi thế cạnh tranh của lúa gạo ĐBSCL nói riêng và lúa gạo Việt Nam nói chung trên trường quốc tế, từng bước nâng cao thu nhập, đời sống nông dân sản xuất lúa ở ĐBSCL, xây dựng mô hình 1 triệu tấn lúa để rút kinh nghiệm cho việc chỉ đạo chương trình 1 triệu ha lúa chất lượng cao được Chính phủ phê duyệt cho ĐBSCL.
Xuất phát từ chỉ đạo chung của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh đã tiến hành xây dựng nhiều mô hình sản xuất lúa với hiệu quả cao.
Ngày 24 tháng 02 năm 2009, Cục Trồng trọt tổ chức hội nghị lần thứ nhất về “Tăng cường liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ lúa ở đồng bằng sông Cửu Long”
Ngày 3 tháng 8 năm 2010, Cục Trồng trọt phối hợp với Hiệp hội Lương thực, Tổng Công ty lương thực miền Nam tổ chức hội nghị “Liên kết xây dựng vùng nguyên liệu lúa xuất khẩu”với các Sở NN & PTNT và các công ty lương thực tỉnh Tiền Giang, Trà Vinh, An Giang, Đồng Tháp, Bạc Liêu và Hậu Giang.
I. Tình hình triển khai trong thời gian qua.
Sự phát triển các cánh đồng liên kết ứng dụng tiến bộ KHKT, nhiều nơi đã áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật trong sản xuất lúa với nhiều tên gọi và quy mô khác nhau tại hầu hết các tỉnh, thành. Một số mô hình tiêu biểu như sau:
+ Long An: Chương trình lúa chất lượng cao: Vụ đông xuân 2010-2011, đã triển khai thực hiện 1.000ha tại các huyện Đức Huệ, Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Tân Thạnh, Mộc Hóa, trong đó doanh nghiệp tư nhân Phú Thông đầu tư ứng trước phân bón cuối vụ thu hồi 600ha, chủ yếu tại huyện Tân Hưng, Vĩnh Hưng.
+ Đồng Tháp:
- Mô hình cánh đồng theo hướng hiện đại: Từ năm 2008, ngành Nông nghiệp Đồng Tháp đã xây dựng mô hình cánh đồng sản xuất theo hướng hiện đại, bắt đầu từ HTX Tân Cường huyện Tam Nông, HTX Thắng Lợi huyện Tháp Mười. Đến năm 2011, toàn tỉnh đã có 10 mô hình với diện tích 1.519 ha với 1.190 hộ tham gia. Các hộ tham gia các mô hình được hướng dẫn ghi chép quá trình sản xuất, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật theo hướng VietGAP.
- Mô hình ba giảm-ba tăng: Trong năm 2010, trong vụ Hè Thu và Thu Đông, tỉnh Đồng Tháp tổ chức 4 mô hình 3 giảm 3 tăng với quy mô 122 ha với 167 hộ tham gia ở 4 huyện Thanh Bình, Tam Nông Nông, Cao Lãnh, Lấp Vò.
- Mô hình sản xuất lúa chất lượng năm 2010: Thực hiện trong vụ Đông Xuân 2010-2011 với số lượng 2 mô hình ở xã Phú Cường huyện Tam Nông, quy mô 41 ha với 52 hộ tham gia.
+ An Giang:
- Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang, đã triển khai mô xây dựng vùng nguyên liệu trong vụ Đông Xuân với quy mô 1.000 ha tại các huyện Châu Thành, Thoại Sơn và Tịnh Biên. Hình thức liên kết là công ty cung cấp đầu vào cho nông dân, hỗ trợ sấy lúa cho nông dân và lưu kho trong 1 tháng không tính chi phí lưu kho.
- Công ty xuất nhập khẩu An Giang, đã triển khai xây dựng vùng nguyên liệu tại Châu Thành và Thoại Sơn với quy mô 900 ha. Hình thức liên kết là cung cấp phân bón cho nông dân và sẽ thu mua lúa cho nông dân sau khi thu hoạch với giá cao hơn thị trường là 200 đồng/kg nếu lúa đạt chất lượng theo yêu cầu của công ty.
- Công ty lương thực – thực phẩm An Giang đã triển khai xây dựng vùng nguyên liệu lúa xuất khẩu với quy mô 500 ha tại Châu Phú và Châu Thành. Công ty sẽ hỗ trợ cho nông dân chí phí vận chuyển đến kho là 30 đồng/kg.
+ Cần Thơ:
- Xây dựng 05 nhóm nông dân tham gia mô hình “Cộng đồng sản xuất và sử dụng chế phẩm sinh học giảm thiểu nguy cơ thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất lúa theo hướng GAP” tại H. Cờ Đỏ, H. Phong Điền, Q.Thốt Nốt, Q. Bình Thủy, bằng nguồn tài trợ của FAO.
- Thành lập 04 nhóm nông dân liên kết sản xuất lúa theo hướng GAP tại TT Cờ Đỏ - Cờ Đỏ, Xuân Thắng - Thới Lai, Thạnh Hòa - Thốt Nốt, TT. Thốt Nốt - Thốt Nốt, trung bình 25-30 người/nhóm, với diện tích 20-30 ha/nhóm.
- Xây dựng “Mô hình cộng đồng quản lý dịch hại lúa trên cánh đồng một loại giống” với mục đích xây dựng mô hình sản xuất khép kín, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới đồng bộ ngay từ khâu làm đất đến thu hoạch, vừa giảm giá thành vừa nâng cao chất lượng hạt lúa theo hướng an toàn, tăng thu nhập cho nông dân tại ấp G2 - Thạnh An, D2 - Thạnh Lợi, Qui Lân 5 -Thạnh Quới, Thầy Ký - TT Thạnh An, Tràng Thọ 3 - Vĩnh Bình, Qui Long - Thạnh Mỹ, Vĩnh Lợi - Vĩnh Trinh thuộc huyện Vĩnh Thạnh. Qui mô mỗi nhóm từ 25-30 nông dân, với diện tích 30-50 ha/nhóm.
- Xây dựng mô hình quản lý rầy nâu trên diện rộng bằng biện pháp sinh học: đã phân phối 2.000 kg chế phẩm Ometar cho nông dân các quận, huyện phun trừ rầy nâu hại lúa. Điều này đã giúp nông dân thay đổi tập quán lệ thuộc sử dụng thuốc hóa học trừ sâu rầy bằng chế phẩm sinh học, hạn chế tình trạng bộc phát rầy, giảm 2- 4 số lần sử dụng thuốc trừ rầy/vụ, giảm ô nhiễm môi trường, tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa.
- Xây dựng 02 nhóm nông dân khoảng 60 người tại xã Trung An huyện Cờ Đỏ và Thị trấn Thạnh An huyện Vĩnh Thạnh tham gia “Mô hình ghi chép Sổ định hướng theo VietGAP”.
+ Hậu Giang:
- Thực hiện mô hình cánh đồng ”3 giảm 3 tăng”, ”1 phải 5 giảm”: Trong vụ thực hiện 9 điểm với 270 lượt người dự, diện tích từ 30 - 40 ha/điểm.
- Thực hiện 01 mô hình Công nghệ sinh thái với diện tích 30 ha tại ấp 4 - xã Vĩnh Trung - huyện Vị Thủy cho 30 nông dân.
+ Tây Ninh:
Mô hình Liên kết 4 nhà thâm canh lúa hiệu quả và bền vững theo hướng VietGAP.
Trong năm 2010, đã triển khai thực hiện mô hình liên kết 4 nhà thâm canh lúa theo hướng hiệu quả, bền vững qua 02 vụ lúa Đông Xuân và Hè Thu trên 593 ha với 455 hộ nông dân tại 5 xã của 4 huyện
Vụ đông xuân 2010-2011 triển khai với diện tích 920 ha, và 653 hộ tham gia tại 11 điểm của 6 huyện trọng điểm lúa.
Nhìn chung các mô hình đều mang lai hiệu quả thiết thực đối với người trồng lúa,nông dân dùng giống xác nhận, biết cách quản lý dịch hại hiệu quả, không sử dụng thuốc BVTV bừa bãi, bón phân đúng nhu cầu của cây lúa, không bón thừa đạm (N), chất lượng gạo tăng lên qua việc áp dụng thuốc BVTV theo phương pháp 4 đúng, giảm thiểu lượng thuốc lưu tồn trong hạt gạo....là tiền đề để tiến tới xây dựng vùng nguyên liệu lúa hàng hóa.
Để việc xây dựng vùng nguyên liệu lúa, sản xuất lúa có ghi chép sổ tay theo hướng GAP được trở thành phong trào mạnh mẽ trong sản xuất vừa góp phần gia tăng năng suất và chất lượng, vừ tạo được vùng nguyên liệu lúa hàng hóa chất lượng cao cần thiết phải xây dựng mô hình ““cánh đồng mẫu lớn”” định hướng sản xuất nông sản an toàn theo GAP.
II. Kế hoạch triển khai xây dựng “cánh đồng mẫu lớn” theo hướng GAP
1. Căn cứ xây dựng tiêu chí “cánh đồng mẫu lớn” theo hướng GAP
+ Căn cứ Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ ngày 24 tháng 6 năm 2002 về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng.
+ Căn cứ chỉ thị số 25/2008/CT-TTg của Thủ Tướng Chính phủ ngày 25 tháng 8 năm 2008 về việc tăng cường chỉ đạo tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng.
+ Căn cứ vào Quyết định số 77/2002/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và PTNT ngày 28 tháng 8 năm 2002 Hướng dẫn về mẫu hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hóa thực hiện quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24 tháng 6 năm 2002 của Thủ Tướng Chính phủ
+ Căn cứ Thông báo Ý kiến kết luận của Thứ trưởng Bùi Bá Bổng Công văn số 892/TB-BNN-VP ngày 01/02/2010 tại Hội nghị “Tổng kết sản xuất lúa năm 2009 và triển khai kế hoạch năm 2010 ở Nam bộ”.
+ Căn cứ thông báo số 986/TB-BNN-VP ngày 21 tháng 02 năm 2011“ Kết luận của Thứ trưởng Bùi Bá Bổng tại cuộc họp giao ban Sơ kết sản xuất vụ lúa Đông Xuân 2010-2011 với các tỉnh, thành vùng đồng bằng sông Cửu Long” ngày 12 tháng 2 năm 2011.
+ Thực hiện tinh thần hội nghị “Tăng cường liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ lúa xuất khẩu ở đồng bằng sông Cửu Long” ngày 24 tháng 2 năm 2009 tại Long Xuyên – An Giang.
+ Căn cứ ý kiến kết luận của Thứ trưởng Bùi Bá Bổng tại Hội nghị ”Tổng kết sản xuất vụ lúa Đông Xuân 2010-2011 – triển khai kế hoạch sản xuất lúa hè thu-thu đông với các tỉnh, thành vùng Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long” ngày 26 tháng 3 năm 2011.
+ Căn cứ vào nhu cầu và định hướng thị trường lúa hàng hóa chất lượng cao xuất khẩu trong những năm tới.
+ Căn cứ vào quy hoạch sản xuất lúa hàng hóa tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
2. Nội dung thực hiện “cánh đồng mẫu lớn” theo hướng GAP
+ Xác định bộ giống lúa xuất khẩu trong từng cánh đồng và trong toàn tỉnh.
+ Ứng dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật và đẫy mạnh cơ giới hóa trong các khâu sản xuất lúa.
+ Xác định vùng sản xuất lúa hàng hóa tập trung tỉnh và tiến hành quy hoạch ngắn hạn, dài hạn.
+ Xây dựng quy trình canh tác lúa hàng hóa chất lượng cao xuất khẩu, tiến tới xây dựng theo quy trình VietGAP lúa.
+ Xác định chuổi cung ứng phù hợp trên cơ sở phân tích, đánh giá chuổi cung ứng hiện tại và đề xuất chuổi cung ứng hợp lý, hiệu quả.
+ Xây dựng nền tảng liên kết vững chắc dựa trên các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, tài chính, thương mại, hài hòa lợi ích và hiệu quả tối ưu.
+ Mở rộng vùng nguyên liệu, phân chia hợp lý và khai thác hiệu quả vùng nguyên liệu.
3. Các bên cần liên kết, phối hợp thực hiện
+ Hiệp hội lương thực Việt Nam và các công ty thành viên
+ Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh, thành ĐBSCL.
+ Phân viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp
+ Các Viện, Trường, trung tâm nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ KHKT
+ Các Doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh giống, phân bón, thuốc BVTV, máy móc, thiết bị phục vụ cơ giới hóa sản xuất lúa.
+ Các tổ chức, HTX, Tổ Hợp tác, Nông dân.
4. Yêu cầu
+ Các bên ký kết Ghi nhớ liên kết xây dựng “cánh đồng mẫu lớn” tiến tới xây dựng vùng nguyên liệu.
+ “cánh đồng mẫu lớn” phải thuận tiện cho việc sản xuất lúa hàng hóa, có triển vọng mở rộng.
+ Nông dân tự nguyện tham gia.
+ Có hạ tầng kinh tế xã hội tương đối hoàn chỉnh.
+ Doanh nghiệp phải đủ năng lực tham gia, triển khai và tổ chức thực hiện.
+ Khả năng đáp ứng của nông dân đối với các yêu cầu về kỷ thuật và pháp lý.
5. Tổ chức thực hiện
5.1 Tiêu chí “cánh đồng mẫu lớn” tiến tới xây dựng vùng nguyên liệu
+ Quy hoạch “cánh đồng mẫu lớn” tiến tới vùng nguyên liệu lúa xuất khẩu: dựa trên cơ sở quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết tại địa phương; căn cứ vào các chủ trương, nghị quyết và chương trình hành động, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng nguyên liệu, hệ thống các công trình thủy lợi phục vụ sản xuất.
+ Tiêu chí xây dựng “cánh đồng mẫu lớn” (mô hình)
(i) “cánh đồng mẫu lớn” phải nằm trong quy hoạch tổng thể nông nghiệp nông thôn, theo chủ trương, nghị quyết, chương trình hành động của địa phương, có điều kiện tự nhiên (đất đai, thời tiết, khí tượng thủy văn..) phù hợp, hạ tầng kinh tế xã hội (hệ thống thủy lợi, đội ngũ cán bộ kỹ thuật, trình độ, tập quán canh tác của nông dân) tương đối tốt.
(ii) Quy mô diện tích: 300 – 500 ha (mô hình) tiến tới xây dựng vùng nguyên liệu >10.000 ha, từ 2 – 3 vùng nguyên liệu tập trung/tỉnh.

(iii) Yêu cầu mô hình “cánh đồng mẫu lớn”:
- Yêu cầu bắt buộc: “Ghi chép sổ tay sản xuất lúa theo VietGAP” do Cục Trồng trọt ban hành theo chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Vị trí địa lý thuận tiện cho việc tổ chức sản xuất và thu mua.
- Nông dân tự nguyện tham gia, bảo đảm quyền lợi cho nông dân, nông dân phải hoàn toàn tự giác và chủ động trong việc thực hiện mô hình
- Nông dân phải được tập huấn kỹ thuật canh tác và phải áp dụng triệt để theo 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm, xuống giống né rầy,
- Giống lúa: 100 % phải sử dụng giống xác nhận, mật độ sạ 80-100kg/ha
- Cày ải, vệ sinh đồng ruộng ngay sau khi thu hoạch vụ trước.
- Gieo sạ đồng loạt trong khoảng thời gian an toàn.
- Bón phân cân đối, sử dụng phân đạm hợp lý, hiệu quả.
- Dùng thuốc hóa học khi cần thiết.
- Cơ giới hóa đạt 100% diện tích
(iv) Cơ quan quản lý chuyên ngành ở địa phương quan tâm, phối hợp thực hiện
(v) Có sự tham gia mạnh mẽ của doanh nghiệp tiến tới xây dững các dịch vụ hỗ trợ trực tiếp cho nông dân theo hướng sản xuất đồng loạt từ làm đất, giống, vật tư nông nghiệp đến thu hoạch, bảo quản, tồn trữ. Các Doanh nghiệp tham gia đăng ký với Cục Trồng trọt để được hướng dẫn thực hiện.
5.2 Quy trình thực hiện mô hình “cánh đồng mẫu lớn” tiến tới xây dựng vùng nguyên liệu
(i) Thông qua thỏa thuận liên kết
(ii) Tổ chức điều tra, khảo sát quy hoạch “cánh đồng mẫu lớn”
(iii) Xác định bộ giống lúa và năng lực cung ứng giống
(iv) Tổ chưc hội nghị triển khai, ký kết hợp đồng
(v) Tập huấn kỹ thuật cho nông dân
(vi) Tổ chức cung ứng vật tư: giống, phân bón, thuốc BVTV…,
(vii) Sản xuất lúa: chăm sóc, thu hoạch, bảo quản thực hiện cam kết hợp đồng.
(viii) Thu mua, thanh lý hợp đồng, tiếp tục ký kết cho vụ tiếp theo
(ix) Hội nghị tổng kết, mở rộng mô hình.
5.3 Trách nhiệm của các bên liên kết
+ Cục Trồng trọt: thực hiện vai trò định hướng, tổ chức phối hợp giữa các bên liên kết; phối hợp chỉ đạo thực hiện, điều hành; tổ chức các hội nghị, báo cáo tổng kết.
+ Sở NN & PTNT: trực tiếp xác định , xây dựng mô hình vùng nguyên liệu, phối hợp chỉ đạo và trực tiếp tổ chức tại địa phương.
+ Hiệp hội Lương thực và các công ty thành viên: Phối hợp, tổ chức ký kết hợp đồng, triển khai thu mua lúa hàng hóa, xây dựng các phương án thu mua, dự báo nhu cầu và mở rộng vùng nguyên liệu.
+ Các Doanh nghiệp hỗ trợ đầu vào thực hiện các cam kết sản phẩm, giá bán và thời gian thu hồi nợ.
5.4 Chế độ thông tin báo cáo
+ Báo cáo tháng: theo mẫu soạn sẵn
+ Hội nghị triển khai
+ Các hội thảo, tập huấn
+ Thông tin, truyền thông
5.5 Giải quyết vướng mắc
Các thắc mắc, khó khăn, trở ngại trong quá trình thực hiện phản ánh về ban chỉ đạo liên kết.
6. Kết quả mong muốn
+ Diện tích “cánh đồng mẫu lớn” trong vụ hè thu 2011: đạt 4.000 – 6.000 ha trong toàn vùng (trung bình mỗi tỉnh 300 – 500 ha)
+ Diện tích “cánh đồng mẫu lớn” trong năm 2012: đạt 20.000 – 40.000 ha trong toàn vùng (trung bình mỗi tỉnh 1.500 – 4.000 ha/vụ)
+ Diện tích “cánh đồng mẫu lớn” trong năm 2013: đạt 50.000 – 80.000 ha trong toàn vùng (trung bình mỗi tỉnh 5.000 – 10.000 ha/vụ)

CỤC TRỒNG TRỌT

" cánh đồng mẫu lớn" Mô hình theo chủ trương của Bộ NN & PTNT


Đưa nông dân nhỏ vào SX lớn
LÊ THANH TÙNG - THANH SƠN (13/04/2011 10:11)


Sau 5 năm thực hiện, mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” do Bộ NN-PTNT triển khai cho các tỉnh, TP ở ĐBSCL, đang có sức lan tỏa mạnh ở khu vực sản xuất lúa trọng điểm này.

Nhiều mô hình lớn



Việc tổ chức lại sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở ĐBSCL theo quy mô lớn đã được Bộ NN-PTNT tính tới từ lâu. Bắt đầu từ vụ đông xuân 2006-2007, Bộ đã triển khai kế hoạch sản xuất 1 triệu tấn lúa chất lượng cao ở 7 tỉnh ĐBSCL. Mục tiêu của mô hình là phát triển lúa gạo xuất khẩu ổn định, bền vững, có hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo lợi ích cho người sản xuất lúa và doanh nghiệp xuất khẩu, phát huy lợi thế cạnh tranh của lúa gạo ĐBSCL nói riêng và lúa gạo Việt Nam nói chung trên trường quốc tế, từng bước nâng cao thu nhập, đời sống nông dân sản xuất lúa ở ĐBSCL, xây dựng mô hình 1 triệu tấn lúa để rút kinh nghiệm cho việc chỉ đạo chương trình 1 triệu ha lúa chất lượng cao (CLC) được Chính phủ phê duyệt cho ĐBSCL.

Ngay trong vụ lúa đó, các tỉnh đã triển khai chương trình xuống các huyện, xã và nông dân. Đồng thời, các tỉnh đã có quy hoạch, phân vùng sản xuất cụ thể đến từng xã, có sự phối hợp với các doanh nghiệp thu mua, chuẩn bị về giống xác nhận cho mô hình lúa CLC cao. Một số tỉnh còn trợ giá cho việc sản xuất giống xác nhận như An Giang, Bạc Liêu..., hay huy động sự tham gia chỉ đạo của các cơ quan chuyên môn trong tập huấn, chuyển giao kỹ thuật sản xuất cho người dân. TCty Lương thực miền Nam cũng thông báo các bộ giống lúa, tiêu chuẩn lúa CLC, chỉ đạo Công ty lương thực các tỉnh triển khai xong việc ký hợp đồng sản xuất và tiêu thụ lúa CLC theo tinh thần Quyết định số 80. Nhờ đó, diện tích thực hiện đạt 263.690 ha, bằng 110,1% so với diện tích đăng ký là 239.487 ha.

Tuy còn nhiều khó khăn, vướng mắc, nhất là về phương thức thu mua, tồn trữ, nhưng Chương trình đã tạo sự quy hoạch cho từng vùng, từng vụ về sản xuất lúa CLC ở các địa phương đăng ký, tạo ý thức trong nông dân về việc canh tác giống lúa xác nhận CLC để gia tăng hiệu quả, thực tế thu mua đã tạo sự khác biệt về nhận thức trong nông dân khi giá thu mua có sự chênh lệch so với giá mua của thương lái. Và quan trọng hơn, việc xây dựng các vùng chuyên canh lúa trên quy mô lớn ngày càng được chú trọng, đẩy mạnh ở nhiều tỉnh, TP thuộc ĐBSCL, thu hút sự tham gia của nhiều DN. Đến vụ đông xuân 2010-2011, tỉnh Long An đã triển khai thực hiện 1.000 ha tại các huyện Đức Huệ, Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Tân Thạnh và Mộc Hóa. Trong đó DNTN Phú Thông đầu tư ứng trước phân bón, cuối vụ thu mua 600 ha tại các huyện Tân Hưng, Vĩnh Hưng.

Từ năm 2008, ngành Nông nghiệp Đồng Tháp đã xây dựng mô hình cánh đồng sản xuất theo hướng hiện đại, bắt đầu từ HTX Tân Cường (huyện Tam Nông) và HTX Thắng Lợi (huyện Tháp Mười). Đến năm 2011, toàn tỉnh đã có 10 mô hình, tổng diện tích 1.519 ha, với 1.190 hộ tham gia. Các hộ tham gia mô hình được hướng dẫn ghi chép quá trình sản xuất, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật theo hướng VietGAP.

Ở An Giang, trong vụ đông xuân này, Cty CP BVTV An Giang đã triển khai mô hình xây dựng vùng nguyên liệu với quy mô 1.000 ha tại các huyện Châu Thành, Thoại Sơn và Tịnh Biên. Hình thức liên kết là công ty cung cấp đầu vào cho nông dân, hỗ trợ sấy lúa cho nông dân và lưu kho trong 1 tháng không tính chi phí lưu kho. Không chịu thua kém, Cty XNK An Giang đã triển khai xây dựng vùng nguyên liệu tại Châu Thành và Thoại Sơn với quy mô 900 ha. Hình thức liên kết là cung cấp phân bón cho nông dân và sẽ thu mua lúa cho nông dân sau khi thu hoạch với giá cao hơn thị trường là 200 đồng/kg nếu lúa đạt chất lượng theo yêu cầu của công ty. Cty Lương thực Thực phẩm An Giang đã triển khai xây dựng vùng nguyên liệu lúa xuất khẩu với quy mô 500 ha tại Châu Phú và Châu Thành. Công ty sẽ hỗ trợ cho nông dân chi phí vận chuyển đến kho là 30 đồng/kg...

Tập hợp nông dân ít ruộng

Các mô hình nói trên mang nhiều tên gọi khác nhau, vì thế Bộ NN-PTNT đã lấy một tên gọi thống nhất chung là “Cánh đồng mẫu lớn”. Theo PGS.TS Phạm Văn Dư, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt, “Cánh đồng mẫu lớn” mang ý nghĩa “cánh đồng lớn nhưng có nhiều nông dân nhỏ” hay nói cách khác là một hình thức mới để tập hợp nông dân ít ruộng đất trong điều kiện thâm canh sản xuất lúa hiện nay.

Trong quá trình thực hiện xây dựng mô hình “Cánh đồng mẫu lớn”, các bên tham gia đều thụ hưởng các lợi ích một cách cao nhất, trong đó nông dân được hưởng lợi thêm từ các dịch vụ phục vụ sản xuất, chất lượng vật tư nông nghiệp và các giá trị tăng thêm cho lúa từ các hoạt động dịch vụ nhiều nhất. “Cánh đồng mẫu lớn” sẽ từng bước được dịch vụ hóa tất cả các khâu trong sản xuất từ giống, làm đất, chăm sóc, quản lý nước đến thu hoạch, bảo quản, chế biến, tồn trữ… Các hoạt động dịch vụ này sẽ góp phần gia tăng năng suất, chất lượng và giá trị hạt gạo, gia tăng tính cạnh tranh và gia tăng lợi nhuận. Theo Cục Trồng trọt, việc mở rộng mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” sẽ giúp khắc phục thất thoát sau thu hoạch có thể lên đến hàng triệu tấn trong nhiều năm nay.

Doanh nghiệp xuất khẩu sẽ có được vùng nguyên liệu ổn định và từ đây có thể chào hàng các sản phẩm theo ý muốn hoặc sản xuất theo đơn đặt hàng với giá trị cao hơn, điều mà trước đây rất ít doanh nghiệp thực hiện được. Trong thời gian qua, đã có những doanh nghiệp tham gia một cách tích cực chủ trương xây dựng mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” của Bộ NN-PTNT như TCty LT miền Nam, Cty CP Phân bón Bình Điền, Cty CP BVTV An Giang, Công ty ADC, Công ty GenTraco...

Trong mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” bao gồm nhiều tiêu chí nhưng có một tiêu chí bắt buộc là phải “Ghi chép sổ tay sản xuất lúa theo VietGAP” do Cục Trồng trọt ban hành theo chỉ đạo của Bộ NN-PTNT. Ông Phạm Văn Dư khẳng định, mục tiêu của việc xây dựng mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” kết hợp với “Ghi chép sổ tay sản xuất lúa theo hướng VietGAP” là tiến tới xây dựng vùng nguyên liệu lúa chất lượng cao, sản xuất, xuất khẩu hiệu quả.

Trong vụ hè thu 2011, tổng diện tích “Cánh đồng mẫu lớn” ở ĐBSCL dự kiến từ 4.000 – 6.000 ha (trung bình mỗi tỉnh 300 – 500 ha/vụ). Trong năm 2012, tổng diện tích “Cánh đồng mẫu lớn” sẽ đạt từ 20.000 – 40.000 ha (trung bình mỗi tỉnh 1.500 – 4.000 ha/vụ). Tổng diện tích “Cánh đồng mẫu lớn” trong năm 2013 từ 50.000 – 80.000 ha (trung bình mỗi tỉnh 5.000 – 10.000 ha/vụ)...

Thứ Bảy, 4 tháng 12, 2010

BÁO CÁO
TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA VỤ ĐÔNG XUÂN 2010 – 2011 TẠI CÁC TỈNH, THÀNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

(Trình bày tại cuộc họp giao ban các tỉnh, thành ĐBSCL
ngày 06 tháng 12 năm 2010 tại Bạc Liêu)


1. Tình hình sản xuất lúa đông xuân 2010 – 2011 đên ngày 06-12-2010
Diện tích xuống giống lúa đông xuân 2010-2011: 531.894 ha/ 1.487.270 ha đạt 35,76% so kế hoạch, tăng 232.000 ha so cùng kỳ đông xuân 2009-2010.
Nhìn chung có sự chủ động của các địa phương đối với khuyến cáo của cơ quan chuyên môn trong thời vụ xuống giống. Những nhận định và dự báo về tình hình khí tượng thủy văn, mực nước lũ, dự báo di trú của rầy nâu, các trà lúa tại thời điểm chuẩn bị cho đông xuân 2010 - 2011 đã góp phần lớn cho việc chỉ đạo và điều hành thời vụ sản xuất ở các địa phương.
Cơ cấu giống lúa cũng tập trung vào các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn, khoảng 90 – 100 ngày. Một số tỉnh chủ động sản xuất các giống lúa dưới 90 ngày.
2. Nhận xét – đánh giá vụ lúa đông xuân 2010-2011
2.1 Những thuận lợi – khó khăn trong sản xuất vụ lúa đông xuân 2010-2011
+ Thuận lợi:
- Chủ động đề xuất các giải pháp chỉ đạo sản xuất lúa đông xuân từ rất sớm, Bộ NN & PTNT đã có Công điện số 20/CĐ-BNN, ngày 28/10/2010 “v/v Triển khai sản xuất vụ lúa Đông Xuân 2010 - 2011 ở Nam bộ” theo đó: đề nghị UBND các tỉnh, thành đồng bằng sông Cửu Long cần tăng diện tích gieo sạ trong tháng 11 đạt khoảng 60% diện tích, diện tích còn lại gieo sạ trong tháng 12 và toàn vùng chấm dứt gieo sạ trước 30/12; Thành lập Ban chỉ đạo chống hạn, mặn các cấp và phê duyệt kế hoạch chống hạn, mặn của địa phương ngay từ đầu vụ để chủ động chống hạn, mặn trong cả vụ; Cảnh giác với dịch bệnh hại lúa, Ưu tiên sử dụng các giống lúa ngắn ngày (90-95 ngày), chất lượng cao, chọn giống chống chịu mặn cho các vùng có nguy cơ xâm nhập mặn. Hướng dẫn nông dân bón phân cho lúa theo sát sự sinh trưởng của cây lúa để tránh lãng phí phân bón, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện sản xuất lúa theo quy trình “3 giảm 3 tăng”.
- Cục Trồng trọt, đã có công văn chỉ đạo sản xuất lúa đông xuân 2010 – 2011 gởi Sở NN & PTNT các tỉnh, thành đồng bằng sông Cửu Long từ rất sớm, trước khi xuống giống lúa.
- Cục Trồng trọt có công văn số 2049/TT-ĐPB ngày 16 tháng 11 năm 2010 về việc quản lý chất lượng phân bón phục vụ cho sản xuất đôngg xuân 2010 – 2011.
- Ngành nông nghiệp địa phương đã linh động xây dựng thời gian gieo sạ cho từng địa bàn cụ thể tùy theo điều kiện thủy văn và né rầy (căn cứ vào bẫy đèn ở địa phương). Đảm bảo gieo sạ cho từng khu vực tập trung đồng loạt, né rầy và né hạn.
-Giá lúa vụ thu đông 2010 tương đối cao khuyến khích nông dân tích cực trong sản xuất, thực hiện tốt trong khâu làm đất, chuẩn bị thời vụ.
-Phối hợp tốt các ban ngành chuyên môn trong chủ động phòng chống các loại dịch hại.
- Lực lư¬¬¬ợng cán bộ kỹ thuật ngành nông nghiệp được tăng cường đến tận cấp xã, chủ động theo dõi tình hình sâu bệnh trên đồng ruộng, chủ động phòng trị dịch hại kịp thời.
- Đầu vụ thời tiết khá thuận lợi và mưa đều, nắng tốt đã tạo điều kiện thực hiện kế hoạch gieo sạ vụ đông xuân 2010-2011 đồng loạt
+ Khó khăn:
- Do ảnh hưởng khô hạn, xâm nhập mặn nên việc gieo sạ vụ hè thu 2010 ở một số vùng thuộc các tỉnh ven biển chậm hơn 1 tháng so với cùng kỳ năm 2009, nên ảnh hưởng đến tiến độ gieo cấy vụ thu đông, đông xuân 2010-2011
- Do năm nay lũ đến muộn và mực nước lũ thấp hơn so năm 2009, đặc biệt trong tháng 11 mưa lớn trên diện rộng, tập trung trong nhiều ngày, làm cho mực nước trên đồng cao, ảnh hưởng đến tiến độ gieo sạ và gây thiệt hại 41.304 ha tại các tỉnh: Bạc Liêu, Cần Thơ, Đồng Tháp, Long An, Kiên Giang, Vĩnh Long và Sóc Trăng. Trong đó phải gieo sạ lại 24.548 ha, khắc phục được 16.756 ha.
- Hiện nay một số diện tích phải gieo sạ lại nên một số giống lúa giống tương đối cao, từ 10.000-12.000đ/kg nên nông dân gặp nhiều khó khăn.
- Mực nước trên sông Hậu năm 2011 xuống thấp hơn nhiều năm. do vậy trong vụ Đông xuân 2010-2011, sẽ thiếu nước ngọt, ảnh hưởng do mặn xâm nhập nguy cơ là rất cao.
- Mực nước lũ thấp, lượng phù sa do lũ mang lại không nhiều nên nông dân phải tăng lượng phân bón để đảm bảo năng suất, giá cả vật tư có xu hướng tăng cao, chi phí cấy dặm, chí phí bơm tát nước, chi phí giống sạ lại tăng hơn so hàng năm làm gia tăng chi phí sản xuất.
2.2 Thời vụ
Hầu hết các tỉnh đều chủ động xuống giống đúng lịch thời vụ đề ra và chủ động tăng diện tích xuống giống trong tháng 11..
Nhìn chung thời vụ xuống giống lúa vụ Đông Xuân 2010 - 2011 căn cứ triệt để theo khuyến cáo né rầy trong toàn vùng và căn cứ vào dự báo rầy nâu di trú của từng tỉnh trên cơ sở theo dõi bẫy đèn. Các nguyên tắc xuống giống tập trung, né rầy trong từng khu vực, từng cánh đồng đã được áp dụng một cách kiên quyết, đồng bộ.
Một vài nơi xuống giống trong khoảng thời gian nữa đầu tháng 11 – 2010 (xung quanh nước 10 tháng 10 âm lịch) chịu tác động của các cơn mưa trái mùa và triều cường làm chết giống phải gieo sạ lại.
2.3 Cơ cấu giống lúa
Cho đến nay các giống lúa trồng chủ yếu trong đợt xuống giống tháng 11 gồm các giống lúa IR 50404, Jasmine 85, VND 95-20, OM 2517, OMCS 2000, OM 4498, OM 4900, OM 2514, OM 6073, OM 6162, OM 4218, OM 4088, OM 6561, nếp.
2.4 Tình hình giá cả vật tư nông nghiệp tính đến ngày 03/12/2010 tại Cần Thơ:
* Giá lúa: Hiện nay do lúa Thu đông 2010 đã thu hoạch hết, lượng lúa còn lại trong dân không nhiều nên giá lúa tăng cao hơn so với kỳ trước, cụ thể như sau: IR 50404 từ 6.000 - 6.300 đồng/kg, giá lúa Jasmine 85 (cũ): 8.100 - 8.200 đồng/kg, giá lúa chất lượng cao hạt dài: (OM 1490, OM 2717, OM 2514): 6.700 - 7.400 đồng/kg.
* Phân bón, thuốc bảo vệ thực vật:
Vào thời điểm đầu vụ lúa do nông dân chuẩn bị cho canh tác vụ Đông xuân làm cho giá phân bón, thuốc BVTV tăng từ 5-30%; đến thời điểm hiện nay giá vật tư nông nghiệp đã ổn định. Cụ thể:
Phân Urea Phú Mỹ hiện có giá 8.400 - 9.800 đ/kg; DAP đen: 14.600 - 16.000đ/kg; Kali Canada 10.600 - 12.000 đ/kg; NPK 20-20-15 Đầu trâu 12.200 - 13.200 đ/kg; NPK 16-16-8 Việt Nhật 9.300 - 9.500 đ/kg; Lân Long Thành 2.300 - 2.600 đ/kg.
- Giá thuốc BVTV: Cruiser: 28.000 - 33.000 đ/chai 10ml; Folicur 430SC: 35.000 - 40.000 đ/chai 60ml; Gaucho: 20.000 - 22.000 đ/chai; Bolis 12B: 38.000 - 40.000 đ/gói; Bolis 6B: 21.000 - 22.000 đ/gói; Sofit: 140.000 - 145.000 đ/chai 500ml.
- Giá lúa giống: Giá lúa giống trong những ngày qua tăng bình quân từ 1.000-1.500 kg/ha tại khu vực quận Thốt Nốt, Ô Môn...
2.5. Dự báo những khó khăn xảy ra vào cuối vụ đông xuân 2010-2011
Một số diện tích có khả năng không đủ nước ngọt tới cuối vụ, xâm nhập mặn, tập trung ở các nơi cuối nguồn nước ngọt
Sản xuất cuối vụ đông xuân có thể gặp khó khăn chủ yếu về nguồn nước tưới do xâm nhập mặn đến sớm,
Cuối vụ đông xuân nếu thời tiết nắng nóng và ẩm độ cao tạo điều kiện thuận lợi cho rầy nâu, bệnh đốm vằn và cháy lá phát triển khoảng 12/2010-01/2011dl do thời điểm nay có sương mù nhiều, biên độ ngày và đêm cao.
+ Ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến lúa đông xuân 2010 - 2011: diện tích lúa đông xuân các tỉnh ven biển: Tiền Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang và Bến Tre: 620.000 ha/ 1.500.000 ha chiếm 40% diện tích toàn vùng.
+ Diện tích có nguy cơ xâm nhập mặn cao nhất: khoảng 100.000 ha/650.000 ha, chiếm 16 % diện tích canh tác lúa của các tỉnh trên, địa bàn ảnh hưởng mặn gồm các huyện: Gò Công đông, Gò Công tây, Thị xã Gò Công, Chợ Gạo, Tân Phú đông (Tiền Giang); Cầu Ngang, Trà Cú, Tiểu Cần, Châu Thành (Trà Vinh); Mỹ Xuyên, Long Phú (Sóc Trăng); Hồng Dân, Phước Long, Giá Rai (Bạc Liêu); An Minh, An Biên, hòn đất (Kiên Giang) và các huyện Long Mỹ, Vị Thủy, Ngã Bảy, Vị Thanh (Hậu Giang).
3. Một số giải pháp cần phải được tiếp tục tập trung thực hiện
+ Về thời vụ
- Căn cứ vào điều kiện nước tưới của từng vùng, khả năng trữ nước thực tế của các hồ chứa, vận hành tốt hệ thống các công trình thủy lợi, tiếp tục tập trung tháng 12 năm 2010 với mục tiêu né tránh khô hạn vào cuối vụ, xuống giống tập trung, đồng loạt né rầy cho từng vùng, từng cánh đồng theo dự báo về tình hình rầy nâu của cơ quan BVTV..
Hơn 60% diện tích sản xuất vụ lúa đông xuân sẽ ảnh hưởng đến thời vụ sản xuất lúa của các vụ lúa trong năm ở đồng bằng sông Cửu Long. Do vậy việc bố trí thời vụ xuống giống cần được theo dõi chặt chẽ để không ảnh hưởng đến sản xuất các vụ lúa còn lại trong năm 2011.
+ Về cơ cấu giống lúa
- Mỗi tỉnh, thành chọn 3 - 5 giống chủ lực, 2 - 3 giống bổ sung và một vài giống lúa triển vọng để có thể thay thế khi gặp những điều kiện không thuận lợi đối với giống chủ lực.
- Các giống lúa chủ lực được khuyến cáo cho vụ Đông Xuân:
Nhóm giống cao sản chất lượng cao cho xuất khẩu: OM 2517, VND95-20, OM 3536, OM 2717, OMCS 2000, OM 2514, OM 4900, OM 4218.
Nhóm giống lúa thơm-đặc sản: Jasmine 85, VD20, ST5, Tài Nguyên, Nàng Hoa, nếp OM 84...
Các giống lúa chịu phèn mặn trung bình-khá: OM 6677, AS996, OM 5199, OM 576, OM 2517, OM 5472, OM 6561, OM 2395, B-TE1, ST5,
- Tăng cường sử dụng giống lúa xác nhận và cơ cấu một giống lúa không vượt quá 15-20% diện tích lúa trong phạm vi toàn tỉnh, thành; trường hợp đặc biệt giống có nhu cầu thị trường rộng, diện tích không vượt quá 30% và cần phải theo dõi chặt chẽ vùng sản xuất. Các giống chủ lực có thể bố trí thành từng địa bàn sản xuất tập trung theo từng giống để thuận lợi cho việc thu mua, chế biến.
+ Về phòng trừ dịch bệnh
- Rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá vẫn còn đe dọa sản xuất lúa ở Nam bộ, vì vậy luôn cảnh giác phòng trừ theo các biện pháp đã thực hiện thành công trong các năm qua, trong đó các biện pháp then chốt gồm: gieo sạ tập trung né rầy, sử dụng giống kháng, dự báo tốt tình hình rầy nâu qua hệ thống bẫy đèn thiết lập đến cấp huyện, giám sát chặt chẽ đồng ruộng, phun xịt thuốc BVTV theo "bốn đúng".
- Chú ý theo dõi bệnh đạo ôn trên lúa Đông Xuân và các dịch bệnh khác để phòng trừ kịp thời. khi phòng trị bệnh đạo ôn cần phun đủ lượng nước hỗn hợp, không pha trộn thuốc với phân bón lá thuộc dạng có nhiều đạm, phun khi lá lúa không còn đọng sương hay nước mưa, không để ruộng bị khô vì thiếu nước bệnh sẽ nặng hơn...
- Trong điều kiện ngập lũ nhỏ các địa phương cần lưu ý đến đối tượng chuột, chúng dễ dàng có nơi cư trú tích lũy gia tăng mật số nhất là những tỉnh có diện tích bị hại cao trong vụ trước như An Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Hậu Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp.
- Chú ý các giải pháp khắc phục ngộ độc hữu cơ, ngộ độc phèn, hạn, mặn.
+ Phân bón
- Sử dụng các loại phân bón chuyên dùng đã được tính toán hàm lượng dinh dưỡng phù hợp theo từng giai đoạn sinh trưởng của lúa
- Sử dụng các loại phân bón chậm tan để nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón của cây trồng và tiết kiệm chi phí.
+ Giữ nước thích hợp: trong tình hình nước tưới khó khăn cho lúa cần áp dụng biện pháp quản lý nước thích hợp
- Tùy theo từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây lúa mà giữ mực nước trong ruộng phù hợp 3-5 cm.
- Áp dụng phương pháp tưới tiết kiệm nước trên ruộng lúa kết hợp với biện pháp 3 giảm 3 tăng sẽ nâng cao hiệu quả trồng lúa, giúp giảm số lần tưới nước trong một vụ lúa và góp phần giảm dịch hại, chi phí sản xuất và áp dụng cơ giới hóa trong thu hoạch.
+ Giai đoạn trước trổ: chỉ cho nước vào ruộng cao tối đa 5-7cm khi mực nước xuống thấp dưới mặt đất 15cm.
+ Giai đoạn lúa trổ: luôn giữ nước trong ruộng (cao tối đa 5-7cm) liên tục trong vòng 1 tuần.
+ Giai đoạn sau trổ: chỉ cho nước vào ruộng đủ ẩm khi mực nước xuống thấp dưới mặt đất 15 cm.
- Cần có đủ nước cho việc bón phân (chỉ cần bơm nước ngập mặt ruộng khoảng 5 cm), không bón phân khi ruộng khô nước.
- Những ruộng lúa trong vùng nhiễm mặn cần theo dõi việc xâm nhập mặn vào cuối tháng 01/2011, đề phòng việc nước mặn xâm nhập sớm ảnh hưởng đến trà lúa trong giai đoạn đòng, trổ sẽ dễ bị lép hạt. Cần có kế hoạch trữ nước ngọt trong kênh mương, ao hồ phục vụ cho những chân ruộng này.
+ Các biện pháp khác
- Tăng cường thực hiện việc phổ biến sản xuất lúa theo hướng GAP, tập huấn nông dân ghi chép sổ tay sản xuất lúa, tập trung vào các giải pháp 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm, quản lý nước và tưới tiết kiệm, sử dụng phân bón hợp lý, cân đối.
- Đẩy mạnh thu hoạch lúa bằng máy gặt đập liên hợp, các biện pháp phơi sấy, tồn trữ phù hợp với từng vùng. Đây là một trong những khâu quan trọng trong giảm thất thoát, giảm chi phí thu hoạch và nâng cao phẩm chất lúa gạo.
- Kết hợp với Công ty lương thực xây dựng vùng nguyên liệu lúa xuất khẩu theo các yêu cầu, tiêu chí và ghi nhớ đã được thỏa thuận giữa Sở Nông nghiệp và các Công ty lương thực.
4. Kiến nghị
- Sở NN & PTNT các tỉnh, thành dựa trên cơ sở thành lập ban chỉ đạo chống hạn, cần rà soát, kiểm tra, thống kê diện tích sản xuất vụ đông xuân 2010 – 2011 có nguy cơ khô hạn, xâm nhập mặn, thực hiện các giải pháp chống hạn tại địa phương đồng thời có các kiến nghị cụ thể các hạng mục công trình, các giải pháp hỗ trợ bằng văn bản về Cục Trồng trọt để có cơ sở trình lãnh đạo Bộ NN & PTNT đề xuất chính sách hỗ trợ.Tập trung chỉ đạo việc xuống giống lúa đúng lịch thời vụ và tính toán, điều tiết lượng lúa giống phục vụ sản xuất. xây dựng phương án chăm sóc bảo vệ lúa đông xuân trong tình hình thực tế hiện nay và chuẩn bị trong các đợt nghỉ tết dương lịch 2011 và tết Nguyên đán.
- Tổng Cục Thủy lợi, Cục BVTV, Trung tâm khuyến nông quốc gia tiếp tục thực hiện theo tinh thần công điện số 20/CĐ-BNN, ngày 28/10/2010 “v/v Triển khai sản xuất vụ lúa Đông Xuân 2010 - 2011 ở Nam bộ” của Bộ NN & PTNT.


CỤC TRỒNG TRỌT

Thứ Tư, 3 tháng 2, 2010

Ý kiến kết luận của Thứ trưởng Bùi Bá Bổng tại Hội nghị “Tổng kết sản xuất lúa năm 2009 và triển khai kế hoạch năm 2010 ở Nam bộ”



Ý kiến kết luận của Thứ trưởng Bùi Bá Bổng tại Hội nghị “Tổng kết sản xuất lúa năm 2009 và triển khai kế hoạch năm 2010 ở Nam bộ”



Vấn đề xung quanh NitroBenzen và hiệu ứng dây chuyền trong sản xuất nông nghiệp – nông thôn – nông dân

Trong những ngày qua, dư luận xã hội, nông dân và các cơ quan chuyên môn, cơ quan chức năng, các nhà khoa học rất quan tâm đến các thông tin về tính chất độc hại của một số sản phẩm phân bón lá có chứa chất Nitro Benzen, có khả năng gây ung thư cho người. Theo phát biểu của Ông Nguyễn Hữu Huân, Phó Cục trưởng Cục BVTV: trong các nhóm hóa chất khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới WHO, hóa chất nào thuộc nhóm 1 là nhóm độc cấm sử dụng, những hóa chất thuộc nhóm 2A khi sử dụng có khả năng gây hại nhưng chưa phổ biến. Nhóm 2B có thể có khả năng tiền chất gây ung thư (nhưng chưa có thông tin). Nhóm 3 không độc nhưng chưa phổ biến và nhóm 4 hoàn toàn không độc. Riêng chất Nitro Benzen thuộc nhóm 2B. Như vậy, khả năng gây độc hay an toàn của hóa chất này vẫn còn bỏ ngõ trong thực tế sử dụng nhiều năm qua. Nhiều ý kiến cho rằng cần phải có cơ sở khoa học để chứng minh về tính độc hại của Nitro Benzen đối với sức khỏe của người dân, cũng có ý kiến cho rằng cần tổng hợp các kết quả nghiên cứu ở các nước đã sử dụng hóa chất này lâu dài như ở tại Mỹ có 6 nhà máy lớn năm 1986 sản xuất 240.000 tấn; tại Trung Quốc có 13 nhà máy năm 2009 sản lượng đạt 290.000 tấn để cảnh báo cho việc sử dụng tại Việt Nam.
Ngày 4 tháng 2 năm 2010, Bộ NN & PTNT tổ chức Hội đồng Khoa học gồm 26 nhà khoa học để xem xét và tư vấn cho Bộ có các kết luận chuẩn xác và phù hợp với các văn bản nhà nước hiện hành đối với các sản phẩm phân bón lá có chứa Nitro Benzen. Tuy nhiên, các thông tin báo chí về Nitro Benzen đã tạo dư luận xã hội quan tâm đặc biệt đến vấn đề này, trong một ý nghĩa tích cực thì sự cảnh báo trên là điều cần thiết trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới, nông sản Việt Nam có nhiều triển vọng xuất khẩu, nhiều khả năng gia tăng được kim ngạch xuất khẩu nông sản thông qua việc gia tăng sản lượng và chất lượng, có thể tránh cho nông sản Việt Nam bị từ chối vì tính chất an toàn của sản xuất. Mặt khác, sức khỏe của người sản xuất là vấn đề hết sức quan trọng được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm thông qua các chủ trương, chính sách về an toàn lao động, an toàn cho người sản xuất, vệ sinh an toàn thực phẩm, bền vững môi trường, an sinh xã hội… được các cơ quan chuyên môn cụ thể hóa bằng các chiến lược phát triển sản xuất, phát triển cây trồng vừa gia tăng sản lượng, chất lượng nhưng luôn phải đảm bảo an toàn cho người sản xuất, người tiêu dùng. Các chương trình, dự án sản xuất theo GAP trong nhiều năm qua trên nhiều loại cây trồng, nhiều vùng sản xuất và các kết quả được chứng nhận của các tổ chức trong nước và quốc tế là một minh chứng cho sự kiên trì và quyết tâm của ngành chuyên môn và toàn xã hội đối với vệ sinh an toàn thực phẩm theo chủ trương, chính sách chung của Đảng và nhà nước. Nhìn toàn cục về sản xuất nông nghiệp để thấy rằng hiệu ứng đối với sự lo ngại của sản phẩm phân bón có chứa chất Nitro Benzen là hoàn toàn hợp lý và cũng là nguyện vọng chung của toàn xã hội không phân biệt là nhà quản lý, người sản xuất, doanh nghiệp, nhà khoa học hay nông dân. Tính tích cực của sự cảnh báo này thể hiện sự quan tâm đến nông dân và người tiêu dùng. Trong đó, nông dân – người trực tiếp sản xuất – có thể chịu những tác động tiêu cực – nếu có – của việc sử dụng sản phẩm có chứa Nitro Benzen. Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ sự cảnh báo này không chỉ với các sản phẩm có chứa Nitro Benzen mà với nhiều loại sản phẩm khác có khả năng gây độc hại cho người, không chỉ là phân bón mà có thể là thuốc BVTV, chất kích thích sinh trưởng, thuốc trừ cỏ và cũng không chỉ trong lĩnh vực trồng trọt mà có thể trong chăn nuôi, thủy sản, xây dựng, công nghiệp, y tế, thực phẩm tiêu dùng… hoặc các lĩnh vực khác có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp.
Trở lại phân bón có chứa Nitro Benzen, hiệu ứng tích cực là nghi ngờ sự an toàn của sản phẩm đối với người sản xuất, sử dụng và tiêu dùng sản phẩm. Trong khi chờ đợi kết luận của các nhà khoa học Việt Nam, chúng tôi nghỉ chúng ta cần cẩn trọng với các thông tin có những tác động khác:
(i) Đưa sự việc nêu trên như là một sự “lừa dối”, “che dấu”, “vô cảm”… như một số cách nhìn nhận vấn đề của các bài báo gần đây, làm cho sự việc không còn là sự quan tâm đến sức khỏe người dân mà gần như định hình thành sự phê phán tính minh bạch của việc thực thi các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, sự phê phán cách suy nghỉ, tư duy khách quan của các cá nhân, đại diện cơ quan chuyên môn bằng một suy nghỉ độc lập của các cá nhân khác, trong khi vấn đề vẫn đang cần được một tập thể các nhà khoa học cẩn trọng xem xét và tư vấn.
(ii) Cần thiết đặt vấn đề sản phẩm có chứa Nitro Benzen trong tổng thể phát triển nông nghiệp và xuất khẩu nông sản Việt Nam. Chúng tôi không cho rằng vấn đề báo chí vừa qua đã nêu là nhỏ, vì đối với sức khỏe đồng bào dù chỉ là một người bị ảnh hưởng cũng là vấn đề cần được quan tâm của toàn xã hội, chúng ta đã từng thấm thía với nỗi đau buồn về di chứng của chất độc màu da cam với hàng vạn đồng bào, chúng ta đã từng quyết tâm biết bao nhiêu trong việc huấn luyện, khuyến cáo, hướng dẫn hàng triệu nông dân cả nước thực hiện chương trình IPM mà mục tiêu trước hết là hạn chế việc sử dụng thuốc BVTV, chúng ta đã và đang nỗ lực tối đa đẩy nhanh tiến bộ kỹ thuật ba giảm ba tăng, 1 phải 5 giảm, chương trình GAP, phấn đấu có các mô hình GlobalGAP, VietGAP cho từng loại cây trồng, cho từng vùng sản xuất… mà mục tiêu cuối cùng là Vệ sinh an toàn thực phẩm, giữ được sức khỏe người sản xuất, người tiêu dùng và bền vững về môi trường. Tiến trình này đòi hỏi nhiều quyết tâm, nhiều phấn đấu và cần được sự ũng hộ, động viên, cùng thực hiện của toàn xã hội.
(iii) Nông nghiệp, nông thôn và nông dân đã và đang được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, nhà nước Việt Nam và của các tổ chức Quốc Tế, Sự quan tâm nào cũng mong muốn mang lại sự thịnh vượng, phồn vinh cho khu vực kinh tế trọng điểm và có ý nghĩa đối với quốc gia đang phát triển như nước ta. Định hướng tích cực của các vấn đề xã hội sẽ thúc đẫy tiến trình này phát triển nhanh hơn và có ý nghĩa hơn, sự tiêu cực sẽ trì hoãn một vài khâu trong tiến trình đi lên và đôi khi là quà tặng cho sự trì hoãn hoặc các chủ thể muốn trì hoãn tiến trình này.
(iv) Nông dân, trước hết là chủ thể trực tiếp ảnh hưởng từ các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân và có tác động trở lại với các chủ trương chính sách đó. Sự nhận thức của nông dân một phần được bắt nguồn từ các thông tin, tuyên truyền từ các phương tiện truyền thông, các cơ quan chuyên môn, các nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nghiệp, cán bộ, cá nhân có tâm huyết với sự phát triển chung theo đúng những định hướng đã được hoạch định. Sự đồng thuận của xã hội (bao gồm cả phản biện tích cực – minh bạch) sẽ là một động lực tốt trong việc phát triển, ngược lại sẽ làm cho sự trì trệ thậm chí là nguy cơ, ảnh hưởng đến tiến trình phát triển chung.
Chúng tôi không hàm ý tranh luận, chúng tôi chỉ mong mõi trên cơ sở lợi ích chung, trước hết là nông dân, rộng hơn nữa là sự phát triển của nông nghiệp đất nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Thứ Năm, 31 tháng 12, 2009

Ý kiến kết luận của Thứ trưởng Bùi Bá Bổng tại cuộc họp giao ban “Sản xuất lúa, phòng trừ rầy nâu, bệnh vàng lùn –lùn xoắn lá vụ Đông Xuân 2009-2010


Ngày 21/12/2009 tại Tiền Giang, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức họp giao ban “Sản xuất lúa, phòng trừ rầy nâu, bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá vụ Đông Xuân 2009-2010 ở Nam Bộ”. Thành phần gồm đại diện lãnh đạo các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khu vực Nam Bộ, các cơ quan thuộc Bộ có liên quan, đại diện một số Viện trường, Hội.
Sau báo cáo của Cục Trồng trọt, Cục Bảo vệ thực vật, các Sở, thảo luận của các đại biểu, Thứ trưởng Bùi Bá Bổng đã có ý kiến kết luận cuộc họp như sau.
1. Thuận lợi và khó khăn trong sản xuất lúa Đông Xuân 2009-2010 ở Nam Bộ
Tính đến thời điểm hiện nay, diện tích lúa Đông Xuân 2009-2010 đã xuống giống trên 1 triệu ha (80% diện tích của vụ), diện tích còn lại khoảng 500.000 ha sẽ gieo sạ đợt sau cùng vào cuối tháng 12/2009 đến đầu tháng 1/2010. Như vậy, thời vụ gieo sạ nằm trong khung thời vụ lý tưởng của Vụ Đông Xuân, ngoài ra diện tích lúa Đông Xuân sớm (sạ trong tháng 10) chiếm tỷ lệ thấp và sạ tập trung. Hiện nay lúa được giá khuyến khích nông dân chăm sóc lúa tốt hơn.
Những khó khăn trong sản xuất lúa Đông Xuân 2009-2010 ở Nam Bộ bao gồm:
- Theo dự báo, vụ Đông Xuân 2009-2010 sẽ bị ảnh hưởng bởi hạn hán và mức độ xâm nhập mặn sâu hơn. Nếu giai đoạn lúa trổ bị hạn hoặc bị xâm nhập mặn, năng suất sẽ giảm nghiêm trọng.
- Tình hình rầy nâu, bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá xảy ra mức độ nhẹ trên trà lúa Đông Xuân đã gieo sạ, mật số rầy nâu trên trà lúa mùa cũng ở mức thấp. Tuy nhiên, khả năng bộc phát của rầy nâu khó lường, vì vậy rầy nâu, bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá vẫn còn là một nguy cơ trong sản xuất vụ Đông Xuân 2009-2010. Ngoài ra, bệnh đạo ôn luôn đe dọa lúa Đông Xuân, đặc biệt vào thời kỳ truớc, trong và sau Tết Nguyên đán.
- Nông dân đầu tư cao hơn cho sản xuất lúa (do lúa có giá) là thuận lợi nhưng cũng cần lưu ý khả năng xảy ra việc bón thừa phân đạm, sử dụng thuốc BVTV không đúng lúc dẫn đến sâu bệnh bộc phát, lây lan.
3. Những công việc cần tập trung chỉ đạo
a) Đối với diện tích lúa đã sạ
Theo dõi chặt chẽ diễn biến sâu bệnh, nhất là rầy nâu, bệnh VL-LXL, bệnh đạo ôn; theo dõi mật số rầy nâu trên trà lúa mùa, khả năng rầy di trú đến từ Campuchia.
Hướng dẫn nông dân chăm sóc lúa tốt, trong đó chú ý: không sử dụng thừa phân đạm, hạn chế phun thuốc trừ sâu cuốn lá giai đoạn lúa non.
b) Đối với diện tích sắp sạ
Đảm bảo thời vụ sạ lúa Đông Xuân chấm dứt trước 10/1/2010. Việc phải chấm dứt gieo sạ trước 10/1 rất quan trọng vì càng sạ muộn càng dễ bị ảnh hưởng hạn về sau.
Các địa phương căn cứ số liệu thu thập từ bẫy đèn tại địa phương để xác định thời vụ cụ thể theo hướng sạ tập trung, né rầy. Trường hợp mật số rầy thấp, nên khuyến cáo nông dân sạ để kết thúc thời vụ sớm.
c) Những công việc cần chú ý trong cả vụ
- Đối phó với xâm nhập mặn và hạn hán
Các địa phương cần củng cố hệ thống cống ngăn mặn và bờ bao nội đồng.
Đối với chống hạn, cần tích cực ngay từ đầu vụ: náo vét kinh mương, tu sử trạm bơm, đầu tư phát triển mạng lưới bơm điện.
- Chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh
Từ nay đến sau Tết là giai đoạn nhạy cảm nhất đối với lúa Đông Xuân, vì vậy cần giám sát đồng ruộng thường xuyên để phát hiện kịp thời sâu bệnh (chú ý rầy nâu, bệnh VL-LXL, bệnh đạo ôn), chú ý rầy di trú từ lúa mùa sang lúa Đông Xuân.
Hướng dẫn nông dân sử dụng phân bón hiệu quả, đặc biệt không bón thừa phân đạm, sử dụng thuốc BVTV theo “4 đúng”, chú ý hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu ăn lá giai đoạn lúa non để giữ mật số rầy nâu không bộc phát.
Theo dõi việc thực hiện chương trình “3 phải, 3 tăng”, “1 phải, 5 giảm” trong sản xuất lúa.
Rút kinh nghiệm việc thực hiện mô hình VietGap trên lúa (bao gồm việc nông dân ghi chép Sổ tay theo GAP).
- Các địa phương tiến hành điều tra về cơ cấu giống lúa ngay sau kết thúc gieo sạ vụ Đông Xuân ở từng tỉnh để giúp chỉ đạo việc chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh phù hợp và định hướng cho việc tiêu thụ; theo dõi việc tổ chức nhân giống lúa tại địa phương, đánh giá hệ thống nhân giống nông hộ.
- Tiếp tục đẩy mạnh thu hoạch lúa bằng máy, tháo gỡ thủ tục để nông dân, doanh nghiệp tiếp cận được chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết số 48/NQ-CP của Chính phủ ngày 23 tháng 9 năm 2009.
- Thanh, kiểm tra việc sản xuất, kinh doanh thuốc BVTV và phân bón thường xuyên và đột xuất.
- Đối với các tỉnh ven biển, tổng kết rút kinh nghiệm sản xuất lúa trong cơ cấu lúa - tôm, xác định giống lúa phù hợp cho cơ cấu lúa - tôm.
4. Phân công chỉ đạo
a) Đối với các Sở
Lập chương trình công tác chỉ đạo sản xuất lúa Đông Xuân của địa phương, chú ý các công tác cần tập trung nêu trên, phân công các đơn vị của Sở triển khai thực hiện, thường xuyên báo cáo cho Bộ (qua Cục Trồng trọt), đối với tình hình sâu bệnh, hạn hán, xâm nhập mặn phải báo cáo kịp thời.
b) Các Cục: Trồng trọt, Bảo vệ thực vật, Thủy lợi, Chế biến TMNLTS và Nghề muối phối hợp với các địa phương để nắm kịp thời diễn biến sản xuất, đôn đốc thực hiện các biện pháp và đề xuất các chính sách để hỗ trợ sản xuất, tháo gỡ các thủ tục trong thực hiện các chính sách Nhà nước đã ban hành. Cục Trồng trọt phối hợp với các đơn vị liên quan và các Sở xây dựng báo cáo tổng kết sản xuất lúa năm 2009 ở Nam Bộ và định hướng sản xuất năm 2010 (hoàn thành trong tháng 01/2010).
c) Trung tâm Khuyến nông - KN QG, Viện trường tuyên truyền, phổ biến các mô hình sản xuất tốt, giới thiệu TBKT mới.
Văn phòng Bộ xin thông báo để các cơ quan, đơn vị có liên quan triển khai, thực hiện.